8 bằng chứng cho Sự Phục Sinh của Chúa Giê-su Ki-tô

Share this...
Share on FacebookShare on Google+Tweet about this on TwitterShare on LinkedIn

06/03/2017

Nguồn: https://www.thoughtco.com/proofs-of-the-resurrection-700603?utm_source=facebook&utm_medium=social&utm_campaign=shareurlbuttons

Tác giả: Mary Fairchild


Khu vườn mộ (The Garden Tomb) ở Jerusalem được tin là nơi chôn cất của Chúa Giê-su Ki-tô. 2.000 năm sau sự chết của Ngài, những người tin theo Chúa Giê-su vẫn lũ lượt đổ về để trông xem ngôi mộ trống, một trong những bằng chứng mạnh mẽ rằng Ngài đã sống lại từ cõi chết.

Empty Garden Tomb

Khu vườn mộ (The Garden Tomb) ở Jerusalem.

Những phát hiện khảo cổ học tiếp tục hỗ trợ tính chính xác về mặt lịch sử của Kinh Thánh. Chẳng hạn gần đây, tờ Associated Press (AP) đã đăng tải về việc khai quật khảo cổ tại Tel El-Safi ở Israel – thành cổ Gath của Philistine.

Gath là thành phố biên giới giữa Philistine và Israel, khoảng năm 1200 TCN. Người Philistine mới định cư từ thời Hy Lạp hiện đại, họ kiểm soát phần đồng bằng duyên hải, trong khi người Israel sống trên vùng đồi núi. Sự xung đột giữa Israel và Philistine được chép trong sách Judges/Các-quan-xét và I Samuel. Cuộc khai quật ở Tel El-Safi đã làm sáng tỏ tính lịch sử của những văn kiện này.

Nhà nghiên cứu Kinh Thánh Chuck Colson không bao giờ chán khi nói về những khám phá khảo cổ hỗ trợ mạnh mẽ cho Kinh Thánh. Ông mô tả những gì các nhà khảo cổ đã tìm thấy tại thành phố Gath/Gát, xứ Philistine/Phi-li-tin.

“Có lẽ sự thật rõ ràng nhất của Ki-tô Giáo, đó là đức tin được lập nền vững chắc trên lịch sử nhân loại, dựa trên cơ sở các sự kiện thực sự diễn ra trong không gian, thời gian, trên vùng đất chúng ta gọi là Đất Thánh” – ông Chuck nói.

 

Phát hiện lịch sử Kinh Thánh về Goliath, David, Samson…

Tuy nhiên, thực tế chúng ta thường có xu hướng quên rằng các sách Phúc Âm và sách Công Vụ Tông Đồ là những lời tường thuật bằng chứng về cuộc đời và cái chết của Chúa Giê-su. Sự Phục Sinh của Chúa Giê-su Ki-tô là sự kiện quan trọng nhất trong mọi thời đại. Đó là điểm mấu chốt nhất về đức tin Ki-tô Giáo. Nền tảng vững chắc của tất cả các chi phái Ki-tô Giáo đều xoay quanh sự thật về tường thuật lại này.

Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống

“Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết.”

 

Tin mừng Thánh Gio-an 11 : 25 – 26

Tông đồ Phao-lô đã bộc bạch trong Thư 1 gửi tín hữu Cô-rin-tô rằng: “Nếu không có sự phục sinh từ sự chết, thì Đức Ki-tô đã không trỗi dậy. Mà nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi là rỗng tuếch, và cả đức tin của anh em cũng rỗng tuếch.” (Thư 1 gửi tín hữu Cô-rin-tô 15 : 13 – 14)

Nhưng nếu chúng tôi rao giảng rằng Đức Ki-tô đã từ cõi chết trỗi dậy, thì sao trong anh em có người lại nói: không có sự phục sinh từ sự chết ? “Nếu không có sự phục sinh từ sự chết, thì Đức Ki-tô đã không trỗi dậy. Mà nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi là rỗng tuếch, và cả đức tin của anh em cũng rỗng tuếch. Thế ra chúng tôi là những chứng nhân giả của Thiên Chúa, bởi vì đã chống lại Thiên Chúa mà làm chứng rằng Người đã cho Đức Ki-tô trỗi dậy, trong khi thực sự Người đã không cho Đức Ki-tô trỗi dậy, nếu quả thật kẻ chết không trỗi dậy. Vì nếu kẻ chết không trỗi dậy, thì Đức Ki-tô cũng đã không trỗi dậy. Mà nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Ki-tô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người.

 

Thư 1 gửi tín hữu Cô-rin-tô 15 : 12 – 19

Tuy nhiên, là một Ki-tô hữu, chúng ta biết rằng chúng ta thờ phượng Đấng Cứu Độ đã trỗi dậy từ sự chết.

Thần Khí của Thiên Chúa trong chúng ta làm chứng, “Ngài sống lại!” Vào thời gian Lễ Phục Sinh, chúng ta cử hành thực tế là Chúa Giê-su qua đời, được chôn cất và trỗi dậy từ ngôi mộ như đã được ghi chép trong Kinh Thánh.

Nhưng không phải thế ! Đức Ki-tô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu. Vì nếu tại một người mà nhân loại phải chết, thì cũng nhờ một người mà kẻ chết được sống lại. Quả thế, như mọi người khi ở trong A-đam mà tất cả phải chết, thì mọi người nhờ ở trong Đức Ki-tô, cũng được Thiên Chúa cho sống. Nhưng mỗi người theo thứ tự của mình : mở đường là Đức Ki-tô, rồi khi Đức Ki-tô quang lâm thì đến lượt những kẻ thuộc về Người. Sau đó mọi sự đều hoàn tất, khi Người đã tiêu diệt hết mọi quản thần, mọi quyền thần và mọi dũng thần, rồi trao vương quyền lại cho Thiên Chúa là Cha.

 

Thật vậy, Đức Ki-tô phải nắm vương quyền cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người. Thù địch cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết, vì Thiên Chúa đã đặt muôn loài dưới chân Đức Ki-tô. Mà khi nói muôn loài, thì dĩ nhiên không kể Đấng đặt muôn loài dưới chân Đức Ki-tô. Lúc muôn loài đã quy phục Đức Ki-tô, thì chính Người, vì là Con, cũng sẽ quy phục Đấng bắt muôn loài phải quy phục Người ; và như vậy, Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài.

 

Thư 1 gửi tín hữu Cô-rin-tô 15 : 20 – 28

Có lẽ một số bạn vẫn giữ quan điểm hoài nghi về sự phục sinh của Chúa Giê-su. Các bằng chứng bên ngoài Kinh Thánh về sự hiện hữu của Chúa Giê-su đến từ các ghi chép của Flavius Josephus, Cornelius Tacitus, Lucian of Samosata, và Jewish Sanhedrin. Dưới đây là 8 bằng chứng vững chắc bên ngoài Kinh Thánh để chứng minh Chúa Giê-su quả thực đã trỗi dậy từ sự chết.

1. Ngôi mộ trống

Ngôi mộ trống có thể là bằng chứng hùng hồn nhất về sự phục sinh của Chúa Giêsu. Có 2 lý do chính được những người không tin đưa ra: Ai đó đã lấy trộm xác Chúa Giêsu, hoặc các phụ nữ và các tông đồ đến không đúng mộ. Người Do-thái và người Rôma không có động cơ để cướp xác, còn các tông đồ quá nhát đảm và phải trốn quân lính Rôma.Các phụ nữ thấy mộ trống và không còn thấy xác Chúa Giêsu, họ biết chắc đó là mộ an táng Chúa Giêsu. Giả sử họ đến không đúng mộ, Tòa án Tối cao Do-thái có thể trình ra một thi thể ở đúng ngôi mộ để ngăn chặn câu chuyện phục sinh.

Vải liệm Chúa Giêsu được xếp gọn gàng trong mộ, kẻ trộm nào cũng vội vàng, không ai lại cẩn thận như vậy. Chính các thiên thần nói rằng Chúa Giêsu đã sống lại.

2. Các nữ chứng nhân thánh thiện

Các nữ chứng nhân thánh thiện là bằng chứng hỗ trợ thêm rằng Phúc Âm là tài liệu lịch sử chính xác. Nếu ghi chép được bịa đặt, không tác giả cổ nào lại dùng phụ nữ làm nhân chứng cho sự phục sinh của Đức Kitô. Phụ nữ là giai cấp công dân thứ yếu trong thời đó, chứng cớ của họ không được xem xét ở tòa án.

Nhưng Kinh Thánh nói rằng Đức Kitô phục sinh hiện ra trước tiên với bà Ma-ri-a Ma-đa-lê-na và mấy phụ nữ thánh thiện khác. Ngay cả các tông đồ cũng không tin bà Ma-ri-a khi bà nói về ngôi mộ trống. Chúa Giêsu luôn tôn trọng các phụ nữ này, Ngài đề cao họ bằng cách cho họ trở thành nhân chứng đầu tiên về sự phục sinh của Ngài. Những người ghi chép Phúc Âm nam giới không có lựa chọn nào mà phải báo cáo lại trung thực ân huệ của Thiên Chúa, bởi vì đó là cách nó xảy ra.

3. Các tông đồ can đảm

Sau khi Chúa Giêsu bị đóng đinh, các tông đồ đã trốn biệt trong các phòng khóa chặt cửa, sợ sẽ đến lượt mình bị lôi đi xử tử. Nhưng có sự thay đổi khác thường: Họ đang là những người nhát đảm trở thành những người rao giảng can trường. Bất kỳ ai biết bản chất con người thì đều hiểu rằng con người không thể thay đổi mau chóng như vậy nếu không có sự tác động lớn. Sự ảnh hưởng đó là được thấy Thầy sống lại từ cõi chết.

Chúa Giêsu đã hiện ra với họ trong căn phòng còn khóa kín cửa, trên bờ biển Ga-li-lê, và trên núi Ô-liu. Sau khi thấy Thầy phục sinh, tông đồ Phêrô và các tông đồ khác đã ra khỏi phòng và đi rao giảng về Đức Kitô phục sinh, bất chấp mọi nguy hiểm có thể xảy ra với mình. Họ không còn trốn tránh vì họ đã biết sự thật. Cuối cùng, họ hiểu rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa nhập thể làm người và cứu mọi người thoát khỏi tội lỗi.

4. Biến đổi Giacôbê và những người khác

Cuộc sống biến đổi là một bằng chứng khác về Chúa Giêsu phục sinh. Tông đồ Gia-cô-bê, anh em họ với Chúa Giêsu, đã từng nghi ngờ không biết Chúa Giêsu có là Đấng Mê-si-a hay không. Nhưng sau đó, ông đã trở thành người lãnh đạo can đảm của giáo đoàn Giê-ru-sa-lem, thậm chí còn bị ném đá chết vì đức tin. Tại sao? Kinh Thánh nói rằng vì Đức Kitô phục sinh đã hiện ra với ông. Thật là cú sốc cho người anh em của ông còn sống, sau khi nghe tin này. Tông đồ Gia-cô-bê và các tông đồ khác cũng đều trở thành các nhà truyền giáo hăng say vì họ đã được thấy và chạm vào Đức Kitô phục sinh. Với các chứng nhân như vậy, Giáo hội sơ khai đã phát triển mau chóng, lan rộng từ Giê-ru-sa-lem tới Tây phương, tới Rôma và xa hơn nữa. Gần 2.000 năm qua, những người gặp được Đức Giêsu phục sinh đều thay đổi cách sống.

5. Đám đông

Đám đông hơn 500 người đã cùng nhau tận mắt thấy Chúa Giêsu phục sinh (1 Cr 15:6-8). Thánh Phaolô nói rằng đa số họ còn sống khi ông viết lá thư đó, khoảng năm 55 sau công nguyên. Chắc chắn họ nói với người khác về “sự lạ” này. Ngày nay, các tâm lý gia nói rằng không thể có số đông người như vậy mà chỉ là ảo giác cộng đồng. Ngày nay, các nhà tâm lý học cho biết đây là điều không thể nào đối với một đám đông lớn người để có cùng một ảo giác cùng một lúc.

Các nhóm nhỏ cũng thấy Chúa Giêsu phục sinh, chẳng hạn như các tông đồ, ông Clê-ô-pa và người bạn đồng hành. Họ cùng thấy một sự việc, còn trường hợp các tông đồ, họ còn sờ vào Chúa Giêsu và xem rõ các vết thương của Chúa Giêsu, rồi tận mắt thấy Ngài ăn uống nữa. Không thể nào là ảo giác, vì sau khi Chúa Giêsu lên trời, họ mới không còn gặp lại Ngài.

6. Phaolô trở lại

Cuộc trở lại của Thánh Phaolô là bằng chứng mạnh mẽ về việc biến đổi cuộc đời mau chóng. Là Sao-lê cùa thành Tác-sô, ông là người bắt đạo dữ dội. Khi Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với ông trên đường Đa-mát, ông trở thành nhà truyền giáo của Kitô giáo. Ông chịu 5 lần đánh bằng roi, 3 lần đánh đập, 3 lần đắm tàu, 1 lần bị nén đá, chịu nghèo nàn và bị chế nhạo. Cuối cùng, hoàng đế Nê-rô của Rôma đã chặt đầu Phaolô vì tội không chịu bỏ niềm tin vào Đức Kitô phục sinh. Điều gì khiến Phaolô chịu cực hình như vậy? Các Kitô hữu tin rằng cuộc trở lại của Phaolô là nhờ ông đã gặp được Chúa Giê-su Ki-tô phục sinh từ sự chết.

7. Người ta dám chết vì Chúa Giêsu

Vô số người đã dám thí mạng vì Chúa Giêsu, chắc chắn sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện có thật trong lịch sử.

Truyền thống nói rằng có 10 tông đồ trong Nhóm Mười Hai đã tử đạo vì Chúa Giê-su Ki-tô phục sinh, như là Thánh Phao-lô. Hàng trăm, hàng ngàn Ki-tô hữu thời sơ khai đã chịu chết tại đấu trường Rôma và tại các nhà lao tù vì họ vững tin vào Chúa Giê-su Ki-tô phục sinh. Ngày nay, người ta cũng vẫn bị bách hại vì tin vào Chúa Giê-su Đức Kitô phục sinh. Rất nhiều vị tử đạo đã chết ở nhiều nơi suốt gần 2.000 năm qua, vì họ vững tin rằng Chúa Giêsu sẽ ban cho họ sự sống đời đời.

8. Bằng chứng lịch sử

Liên quan đến các nguồn tài liệu nguyên thủy, sự phục sinh có trong ghi chép của sứ đồ Mát-thêu, Gio-an, và của sứ đồ Phao-lô trong 1 Cô-rin-tô 15, bao gồm cả các tài liệu tham khảo bổ sung của Gia-cô-bê. Các nguồn tài liệu thứ cấp cho sự phục sinh của Chúa Giê-su có trong Tin mừng Thánh Lu-ca, Mác-cô, và những tài liệu sau đây:

Bằng chứng từ Ignatius

Ignatius sống từ giai đoạn 70-115 Sau Công Nguyên, đã xác nhận rõ ràng bản chất lịch sử theo nghĩa đen của sự phục sinh của những vị thánh trước đây đã an nghỉ, tuyên bố rằng:

“Vì Kinh Thánh đã chép,“ Nhiều thi thể của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy,” mồ mả của họ được mở ra. Ngài đã thực sự đã xuống âm phủ, nhưng Ngài đã trỗi dậy cùng với nhiều người”

 

“For Says the Scripture, ‘Many bodies of the saints that slept arose,’ their graves being opened. He descended, indeed, into Hades alone, but He arose accompanied by a multitude” 

 

Chương 9, The Ante-Nicene Fathers, quyển I, trang 70

Ignatius gửi tới Hội Thánh Magnesias:

  “… Vì thế hãy chịu đựng, rằng chúng ta có thể được nhìn nhận là các môn đồ của Chúa Giê-su Ki-tô, vị Thầy duy nhất của chúng ta — làm sao chúng ta có thể sống được nếu tách ra khỏi Ngài, mà môn đệ của Ngài đã được tiên báo trong Đức Thánh Linh rằng hãy chờ đợi Ngài như là Thầy của họ? Và vì thế Ngài là Đấng mà họ đã chờ đợi đúng đắn, đã đến, trỗi dậy họ từ cõi chết ”

 

“… Therefore endure, that we may be found the disciples of Jesus Christ, our only Master—how shall we be able to live apart from Him, whose disciples the prophets themselves in the Spirit did wait for Him as their Teacher? And therefore He who they rightly waited for, being come, raised them from the dead”

 

Chương 9, Alexander Roberts và James Donaldson, ấn bản The Ante-Nicene Fathers, quyển I (1885).

Bằng chứng từ Irenaeus

Irenaeus, người sống trong giai đoạn 120 – 200 Sau Công Nguyên, được liên kết chặt chẽ với các người chép Kinh Thánh Tân Ước. Ngài biết Polycarp là môn đệ của sứ đồ Gio-an. Irenaeus đã viết:

 “… Ngài [Đấng Ki-tô] trải qua đau khổ, người có thể dẫn dắt những linh hồn trên cao đi theo sự thăng thiên của Ngài. Sự kiện này cũng là một dấu hiệu cho thấy sự thật rằng lúc giờ thánh của Đấng Ki-tô đi xuống âm phủ, nhiều linh hồn đã thăng thiên và được chứng kiến trong thân xác của họ ”

 

“…He [Christ] suffered who can lead those souls aloft that followed His ascension. This event was also an indication of the fact that when the holy hour of Christ descended [to Hades], many souls ascended and were seen in their bodies”

 

Mảnh vỡ từ Tác phẩm Đã mất của Irenaeus XXVIII, Ante-Nicene Father, quyển I, Alexander Roberts, ibid., 572-573.

Bằng chứng từ Clement

Clement của Alexandria sống từ những năm 155-200 Sau Công Nguyên, đã xác nhận tính lịch sử của sự phục sinh của các thánh đồ trong Tin mừng theo Thánh Mát-thêu 27, viết:

 “Nhưng những người đã ngủ thiếp đi đã chết, nhưng đã sống lại.” Hơn nữa, Tin Mừng cho biết, ‘rằng nhiều thi thể của những người đã chết đã trỗi dậy,’ – rõ ràng là đã được chuyển dịch sang một trạng thái tốt hơn ”

 

“‘But those who had fallen asleep descended dead, but ascended alive.’  Further, the Gospel says, ‘that many bodies of those that slept arose,’—plainly as having been translated to a better state”

 

Alexander Roberts, ấn bản Stromata, Ante-Nicene Fathers, tập. II, chương VI, 491.

Bằng chứng từ Tertullian

Tertullian, người sống ở giai đoạn 160 – 222 Sau Công Nguyên, đã viết:

 “’Và mặt trời trở nên tối đen vào giữa ngày;’ (và khi nó ‘rùng mình quá mức’ trước cuộc khổ nạn của Chúa Ki-tô, khi trái đất run rẩy đến tận trung tâm của nó, và tấm màn che của Đền Thờ được xé ra, và những ngôi mộ bật tung?) ‘bởi vì hai điều ác độc Người Dân của tôi đã thực hiện’ ”

 

“’And the sun grew dark at mid-day;’ (and when did it ‘shudder exceedingly’ except at the passion of Christ, when the earth trembled to her centre, and the veil of the temple was rent, and the tombs burst asunder?) ‘because these two evils hath My People done’”

 

Alexander Roberts, ấn bản Câu trả lời tới người Do Thái An Answer to the Jews, Chap XIII, Ante-Nicene Fathers, vol. 3, 170.

Không một bản ghi chép đơn lẻ nào được tìm thấy ở bất kỳ người được khảo sát nào tin rằng đây chỉ là một huyền thoại. Những ghi chép này rất gần với khoảng thời gian phục sinh chứng tỏ đó không phải là câu chuyện huyền thoại.

Là những Ki-tô hữu, chúng ta hãy vững tin vào Sự Phục Sinh của Chúa Giê-su Ki-tô, sự tha tội của Thiên Chúa và tặng ân sự sống đời đời mà Thiên Chúa đã ban tặng. Hãy cùng nhau sát cánh rao giảng Tin Mừng về Chúa Giê-su và Nước Thiên Chúa, đặc biệt với dân tộc Việt Nam chúng ta, vì Ngày của Thiên Chúa đã rất gần rồi! Chúa Giê-su đã răn bảo chúng ta trong Tin mừng Thánh Gio-an 3 : 16 – 21 rằng:

Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án ; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa. Và đây là bản án : ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa. Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách. Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ : các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa.”

 

– Tin mừng Thánh Gio-an 3 : 16 – 21


Tham khảo:

  1. chap.Ix, The Ante-Nicene Fathers, vol. I, p. 70
  2. [Chap. IX] Alexander Roberts and James Donaldson, eds. The Ante-Nicene Fathers, vol. I (1885).
  3. Fragments from the Lost Writings of Irenaeus XXVIII, Ante-Nicene Fathers, vol. I, Alexander Roberts, ibid., 572-573.
  4. Alexander Roberts, ed. Stromata, Ante-Nicene Fathers, vol. II, chap. VI, 491.
  5. Alexander Roberts, ed. An Answer to the Jews, Chap XIII, Ante-Nicene Fathers, vol. 3, 170.
Share this...
Share on FacebookShare on Google+Tweet about this on TwitterShare on LinkedIn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *