Có bằng chứng lịch sử nào cho sự hiện hữu của Chúa Giê-su Ki-tô?

Share this...
Share on FacebookShare on Google+Tweet about this on TwitterShare on LinkedIn

23/11/2017

Nguồn: http://www.christianevidence.net/2017/11/is-there-historical-evidence-for-jesus.html

Tác giả: Joel


Mọi người thường hỏi tại sao không có ghi chép về Chúa Giê-su trong những ghi chép của người La Mã. Thực sự rất đơn giản tại sao với Ngài lại không? Đối với Ngài, không có những ghi chép còn tồn tại của người La Mã! Những nhà sử học La Mã cổ đại, những người ít quan tâm đến những sự đến và sự ra đi của các giáo phái thiểu số, và quan tâm nhiều hơn đến các Hoàng đế và các Vua. Chúa Giê-su sống một cuộc sống bình thường của một con người, và không có gì đáng chú ý trong khi còn sống – vì thế không có lý do gì để các nhà sử học La Mã chú ý đến Ngài.

Không có bất kỳ cuộc tranh luận nào trong thế giới cổ đại về việc liệu Chúa Giê-su người Nazareth có phải là một nhân vật lịch sử hay không. Tuy nhiên, bằng chứng lịch sử cho sự hiện hữu Chúa Giê-su người Nazareth đã được thiết lập lâu dài và phổ biến rộng rãi. Trong một vài thập kỉ của cuộc đời Ngài, Ngài được các sử gia người Do Thái và La Mã đề cập tới, cũng như bởi hàng chục ghi chép của Ki-tô Giáo. Hãy quan sát chỉ một vài ghi chép trong số đó …

Bằng chứng từ Josephus

Tài liệu tham khảo đáng chú ý nhất đối với Chúa Giê-su bên ngoài Kinh Thánh có thể tìm thấy trong các bài viết của Josephus, một sử gia người Do Thái thế kỷ thứ nhất. Flavius Josephus đã xuất bản một cuốn lịch sử của người Do Thái trong hai mươi cuốn sách khoảng năm 93 Sau Công Nguyên. Trong cuốn sách thứ 18 và 20, có hai trích dẫn nhỏ tới Chúa Giê-su mà đã truyền cảm hứng cho một tài liệu khổng lồ về tính xác thực hoặc giả mạo của chúng. (Josephus không phải là Ki-tô hữu, và thật khó tin rằng bất cứ ai ngoại trừ một Ki-tô hữu có thể đưa ra một vài tuyên bố này). Josephus đã viết:

Bây giờ đã có khoảng thời gian Chúa Giê-xu, một người thông thái, nếu luật pháp cho phép gọi Ngài là một con người; vì Ngài là một người thực hiện các công việc tuyệt vời, một thầy giáo của những con người tiếp nhận sự thật với niềm vui. Ngài đã thu hút được cả người Do Thái và nhiều người dân ngoại. Ngài là Đấng Ki-tô. Và khi Pilate, theo lời đề nghị của những người cầm quyền chủ chốt trong chúng ta, đã kết án Ngài trên thập tự giá, những người mà yêu mến Ngài từ lúc đầu đã không từ bỏ Ngài; bởi vì Ngài sống lại hiện ra cho họ một lần nữa sau 03 ngày; như các vị tiên tri của Thiên Chúa đã báo trước điều này và mười ngàn điều kỳ diệu khác liên quan đến Ngài. Và cộng đồng các Ki-tô hữu, được đặt tên theo tên của Ngài, đã không bị tuyệt diệt tới ngày nay.

 

Now there was about this time Jesus, a wise man, if it be lawful to call him a man; for he was a doer of wonderful works, a teacher of such men as receive the truth with pleasure. He drew over to him both many of the Jews and many of the Gentiles. He was the Christ. And when Pilate, at the suggestion of the principal men amongst us, had condemned him to the cross, those that loved him at the first did not forsake him; for he appeared to them alive again the third day; as the divine prophets had foretold these and ten thousand other wonderful things concerning him. And the tribe of Christians, so named from him, are not extinct at this day.

Josephus, Antiquities 18.63-64, được trích dẫn trong Yamauchi, “Chúa Giê-su bên ngoài Kinh Thánh Tân Ước”, 212.

 

(Các phần của đoạn văn nơi được ghi màu đỏ ở trên, là những bổ sung của một nhà chép bản thảo Ki-tô Giáo cố gắng làm cho Chúa Giê-su xuất hiện trong một ánh sáng tốt hơn)

Một khám phá lần đầu tiên năm 1995 đã chỉ ra rằng mô tả của Josephus về Chúa Giê-su cho thấy một sự tương đồng kỳ lạ với những mô tả đầu tiên khác về Chúa Giê-su. Người ta đã chứng thực về mặt thống kê rằng sự tương đồng là quá giống nhau để xuất hiện một cách tình cờ. Những nghiên cứu sâu hơn cho thấy mô tả của Josephus không có nguồn gốc từ những văn bản khác này, mà là cả hai đều dựa trên một “Phúc Âm” Do thái – Ki-tô Giáo đã bị mất. Nó có thể trở thành bằng chứng để chứng minh rằng sự thuật lại về Chúa Giê-su không thể là một sự giả mạo.

Bằng chứng từ Tacitus

Báo cáo về quyết định của Hoàng đế Nero để đổ lỗi cho các Ki-tô hữu cho việc phóng hỏa mà đã phá hủy La Mã năm 64 sau Công nguyên, nhà sử học La Mã Tacitus đã viết:

Nero trói những người bị buộc tội. . . trong một tầng lớp bị thù ghét vì những điều làm mất lòng đám đông, được gọi là Ki-tô hữu bởi dân chúng. Christus, mà từ danh Ngài làm gốc rễ, đã chịu đựng hình phạt cực đoan trong triều đại của Tiberius một cách đau đớn . . . Và một điều mê tín có ác ý nhất, Pontius Pilatus, chỉ kiểm tra khoảng giây lát, một lần nữa đã nổ ra không chỉ ở Judaea, cội nguồn đầu tiên của cái ác, mà ngay cả ở Rome. . . .

 

Nero fastened the guilt . . . on a class hated for their abominations, called Christians by the populace. Christus, from whom the name had its origin, suffered the extreme penalty during the reign of Tiberius at the hands of . . . Pontius Pilatus, and a most mischievous superstition, thus checked for the moment, again broke out not only in Judaea, the first source of the evil, but even in Rome. . . .

Tacitus, Annals 15.44, được trích dẫn trong Strobel, Hoàn cảnh thực sự của Đấng Ki-tô, 82.

Bằng chứng từ bộ sách Babylonian Talmud

Bộ sách Babylonian Talmud là một bộ sưu tập các bài viết của thầy giảng luật người Do Thái được biên soạn khoảng giữa năm 70 đến năm 500 Sau Công Nguyên. Giai đoạn sớm nhất của việc biên soạn này xảy ra khoảng giữa năm 70 đến năm 200 Sau Công Nguyên. Tham khảo đáng kể nhất đối với Chúa Giê-su từ thời kỳ này cho biết:

Vào đêm trước Lễ Vượt Qua Yeshu đã bị treo lên thập tự giá. Trong bốn mươi ngày trước khi cuộc hành hình diễn ra, một lệnh truyền . . . đã khóc, “Ông ta sẽ bị ném đá bởi vì ông ta đã thực hành phép thuật và dụ dỗ người Israel bỏ đạo.”

 

On the eve of the Passover Yeshu was hanged. For forty days before the execution took place, a herald . . . cried, “He is going forth to be stoned because he has practiced sorcery and enticed Israel to apostasy.”

Bộ sách Babylonian Talmud, dịch thuật bởi I. Epstein (London: Soncino, 1935), quyển III, Sanhedrin 43a, 281, được trích trong Habermas, Lịch sử Chúa Giê-su, 203.

Bằng chứng từ Lucian

Lucian của Samosata là một nhà văn trào phúng của Hy Lạp thế kỷ thứ hai. Trong một tác phẩm của mình, ông đã viết về những Ki-tô hữu đầu tiên như sau:

Các Kitô hữu . . . tôn thờ một người đàn ông cho đến ngày nay – một nhân vật khác biệt người đã giới thiệu tới họ các nghi thức lạ thường, và bị đóng đinh trên thập tự giá vì lý do đó . . . Nó đã gây ấn tượng với họ bởi người lập pháp ban đầu của họ rằng tất cả họ là anh em, kể từ thời điểm họ được cải đạo, và chối bỏ các thần của Hy Lạp, và thờ phượng bậc hiền nhân bị đóng đinh, và sống theo luật pháp của Ngài.

 

The Christians . . . worship a man to this day–the distinguished personage who introduced their novel rites, and was crucified on that account. . . . [It] was impressed on them by their original lawgiver that they are all brothers, from the moment that they are converted, and deny the gods of Greece, and worship the crucified sage, and live after his laws.

Lucian, The Death of Peregrine, 11-13, trong The Works of Lucian of Samosata, dịch thuật bởi H.W. Fowler và F.G. Fowler, 4 tập (Oxford: Clarendon, 1949), quyển 4., được trích trong Habermas, Lịch sử Chúa Giê-su, 206.

Bằng chứng từ Pliny the Younger

Một trong những lá thư của mình, đề ngày khoảng năm 112 sau Công Nguyên, Pliny the Younger viết cho Hoàng đế để được tham vấn về các Ki-tô hữu. Ở một điểm trong bức thư của mình, Pliny liên hệ đến một số thông tin mà ông đã học được về những Ki-tô hữu này:

Họ có thói quen họp mặt vào một ngày cố định trước khi trời sáng, khi họ hát các bài thánh ca luân phiên tới Đấng Ki-tô, như tới một vị thần, và tự mình ràng buộc bằng một lời thề trọng thể, không phải tới bất kỳ hành vi tội lỗi nào, mà để không bao giờ phạm bất kỳ tội gian lận, trộm cắp hoặc ngoại tình, không bao giờ làm chứng dối, và cũng không từ chối đức tin khi họ được kêu gọi để tuyên hứa; sau đó tùy theo tập quán của họ để phân tách ra, và rồi lắp ráp lại để dự phần vào của đồ ăn – nhưng là loại đồ ăn bình thường và trong sạch.

 

They were in the habit of meeting on a certain fixed day before it was light, when they sang in alternate verses a hymn to Christ, as to a god, and bound themselves by a solemn oath, not to any wicked deeds, but never to commit any fraud, theft or adultery, never to falsify their word, nor deny a trust when they should be called upon to deliver it up; after which it was their custom to separate, and then reassemble to partake of food–but food of an ordinary and innocent kind.

Pliny, Letters, dịch thuật bởi William Melmoth, hiệu đính bởi W.M.L. Hutchinson (Cambridge: Harvard Univ. Press, 1935), quyển II, X:96, được trích trong Habermas, Lịch sử Chúa Giê-su, 199.

Những tài liệu tham khảo lịch sử phong phú này khiến chúng ta còn rất ít nghi ngờ về việc Chúa Giê-su đã sống và chết. Những ai chối bỏ sự hiện hữu của Chúa Giê-su, cũng phải từ chối bất cứ một nhân vật lịch sử cổ xưa thực tế nào. Các ghi chép lịch sử không khác nhau.

Tổng số bằng chứng là quá áp đảo, tuyệt đối đến nỗi chỉ những trí tuệ nông cạn mới dám chối bỏ sự hiện hữu của Chúa Giê-su. – Paul L. Maier

 

The total evidence is so overpowering, so absolute that only the shallowest of intellects would dare to deny Jesus’ existence. – Paul L. Maier

Chúng ta thậm chí không cần những hồ sơ lịch sử ngoài Kinh Thánh này để chứng minh sự hiện hữu của Chúa Giê-su vì chúng ta đã có những bằng chứng tuyệt đối áp đảo rằng Kinh Thánh Tân Ước là một tài liệu lịch sử chính xác và đáng tin cậy, xem ở đây. Một cách nghiêm túc, nếu bản thảo có kích thước trung bình dày 2,5 inches, tất cả các bản sao các tác phẩm của một tác giả trung bình người Hy Lạp sẽ xếp chồng lên cao 04 feet, trong khi bản sao của Kinh Thánh Tân Ước sẽ xếp chồng lên cao hơn 01 dặm ! Chúa Giê-su chắc chắn hiện hữu.


Tham khảo:
  • https://probe.org/ancient-evidence-for-jesus-from-non-christian-sources-2/
  • http://www.bede.org.uk/jesusmyth.htm
  • https://www.theguardian.com/world/2017/apr/14/what-is-the-historical-evidence-that-jesus-christ-lived-and-died
  • http://www.earlychristianwritings.com/testimonium.html
  • http://www.josephus.org/testimonium.htm
  1. Tacitus, Annals 15.44, cited in Strobel, The Case for Christ, 82.
  2. Josephus, Antiquities 18.63-64, cited in Yamauchi, “Jesus Outside the New Testament”, 212.
  3. The Babylonian Talmud, transl. by I. Epstein (London: Soncino, 1935), vol. III, Sanhedrin 43a, 281, cited in Habermas, The Historical Jesus, 203.
  4. Lucian, The Death of Peregrine, 11-13, in The Works of Lucian of Samosata, transl. by H.W. Fowler and F.G. Fowler, 4 vols. (Oxford: Clarendon, 1949), vol. 4., cited in Habermas, The Historical Jesus, 206.
  5. Pliny, Letters, transl. by William Melmoth, rev. by W.M.L. Hutchinson (Cambridge: Harvard Univ. Press, 1935), vol. II, X:96, cited in Habermas, The Historical Jesus, 199.
Share this...
Share on FacebookShare on Google+Tweet about this on TwitterShare on LinkedIn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *