Thân thế, thời đại và giáo huấn của Chúa Giê-su Ki-tô

22/12/2017

Nguồn: http://www.about-jesus.org/life-of-jesus.htm


Năm 2017 sắp qua đi, và trong những ngày tháng cuối cùng của năm này, khắp nơi trên thế giới người dân lại bắt đầu tưng bừng chuẩn bị cho ngày lễ Giáng Sinh và Giao thừa đón năm mới. Những khúc nhạc Giáng Sinh vui vẻ, những cây thông rực rỡ, vui mát, những chương trình giảm giá mua sắm … không khí mà Lễ Giáng Sinh mang lại quá ấm áp và đẹp đẽ đối với cả những người Vô Thần. Nhưng trong không khí háo hức chờ đợi một mùa đoàn tụ và yêu thương nữa lại đến, sẽ là thiếu sót nếu chúng ta chỉ ăn mừng mà quên mất đi nhân vật trọng tâm của Lễ Giáng Sinh – Chúa Giê-su Ki-tô.

Chúa Giê-su (còn gọi là Đấng Ki-tô có nghĩa là Vua của Israel hay Đấng Cứu Thế Messiah) sinh ra ở Israel 2000 năm trước. Nền văn minh hiện đại ghi dấu sự ra đời của Ngài bằng cách chia thời gian thành trước Công nguyên B.C. (before Christ – trước khi Đấng Ki-tô ra đời) và sau Công nguyên A.D. (Anno Domini – sau khi Đấng Ki-tô ra đời). Trong 30 (ba mươi) năm đầu tiên, Ngài sống một đời sống của người Do Thái truyền thống, làm công việc của một người thợ mộc. Trong suốt khoảng thời gian này, tất cả dân Israel đều thuộc chế độ độc tài La Mã của Caesar, bao gồm cả Bethlehem, nơi Chúa Giê-su sinh ra, và Nazareth, nơi Ngài lớn lên.

Năm 30 tuổi, Chúa Giê-su bắt đầu giảng dạy trước dân chúng và bày tỏ các phép lạ được ghi lại, nhưng Ngài vẫn không bao giờ đi hơn 200 dặm từ nơi Ngài sinh ra. Trong khoảng thời gian 03 (ba) năm sau đó, mặc dù nỗ lực để giữ khỏi sự chú ý, nhưng danh tiếng của Chúa Giê-su lan rộng trên khắp quốc gia. Tổng trấn La Mã, vua Israel, các thầy thượng tế và những người Pha-ri-sêu lúc đó đã lưu tâm tới Ngài. Những sứ điệp then chốt của Chúa Giê-su bao gồm:

1. Thiên Chúa yêu thương và ở cùng với anh em

Đức Giê-su đáp : “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy. Ai không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy (Tin Mừng Thánh Gio-an 14 : 23 – 24)

2. Yêu thương người khác

Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó. (Tin Mừng Thánh Mát-thêu 7 : 12)

 

3. Giá trị to lớn của mỗi con người

“Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được ? Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói : ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất.’ Cũng thế, tôi nói cho các ông hay: giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.” (Tin Mừng Thánh Lu-ca 15 : 8 -10)

4. Tin mừng: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần

Người nói: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (Tin Mừng Thánh Mác-cô 1 : 15)

5. Thực tế của sự phán xét lên Thiên Đàng hay xuống Hỏa Ngục

Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, rồi quăng chúng vào lò lửa; ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ. Ai có tai thì nghe. (Tin Mừng Thánh Mát-thêu 41 – 43)

6. Thiên Chúa tha thứ cho ai cầu xin

Thật, tôi bảo thật các ông: ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống. (Tin Mừng Thánh Gio-an 5 : 24)

 

“Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. “Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời. (Tin Mừng Thánh Mát-thêu 18 : 3 – 4)

Những dấu chỉ và phép lạ mà Chúa Giê-su thực hiện đã chứng minh Ngài chính là Đấng Cứu Thế Messiah – Vua của Israel mà Thiên Chúa hứa ban cho người Israel. Vì lòng ghen tỵ, các thượng tế Israel đã bàn cách giao nộp Chúa cho thống đốc La Mã phía nam Israel lúc bấy giờ là Phi-la-tô để ủy quyền cho một cuộc hành quyết, vì trong lề luật của Thiên Chúa người Israel không được phép giết người.

Các thượng tế và những người Pha-ri-sêu đã mua chuộc Judas Iscariot – một trong 12 môn đệ của Chúa – dụ dỗ y tìm cách bán Thầy của mình. Trong cuộc đấu tố Chúa Giê-su, chính ngay tổng trấn Phi-la-tô cũng không tìm thấy bất cứ tội lỗi nào của Chúa Giê-su và đã lấy làm lạ khi người Israel giao nộp Đấng Messiah – vị Vua được mặc khải của họ.

Tổng trấn Phi-la-tô nói tiếp : “Thế còn ông Giê-su, cũng gọi là Ki-tô, ta sẽ làm gì đây ?” Mọi người đồng thanh : “Đóng đinh nó vào thập giá !” Tổng trấn lại nói: “Thế ông ấy đã làm điều gì gian ác ?” Họ càng la to : “Đóng đinh nó vào thập giá !” Tổng trấn Phi-la-tô thấy đã chẳng được ích gì mà còn thêm náo động, nên lấy nước rửa tay trước mặt đám đông mà nói : “Ta vô can trong vụ đổ máu người này. Mặc các người liệu lấy !” Toàn dân đáp lại: “Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi !” Bấy giờ, tổng trấn phóng thích tên Ba-ra-ba cho họ, còn Đức Giê-su, thì ông truyền đánh đòn, rồi trao cho họ đóng đinh vào thập giá. (Tin mừng Thánh Mát-thew 27 : 22 – 26)

Chúa Giê-su đã bị tra tấn dã man, tay Ngài đã bị treo ngang và đóng đinh vào Thập Tự Giá. Phương pháp hành hình thời trung cổ này nhằm hạn chế luồng không khí vào phổi nạn nhân, gây nên cái chết từ từ và đau đớn. Sau 03 giờ, Chúa Giê-su đã chết trên Thập Tự Giá. Tuy nhiên, theo hơn 500 nhân chứng, Chúa Giê-su đã phục sinh 03 (ba) ngày sau đó, và trong 40 ngày tiếp theo, Ngài đã đi đến cả hai vùng miền nam và miền bắc của Israel. Rồi Ngài trở về Thành Thánh Jerusalem, là nơi mà Ngài vừa mới bị hành quyết, và theo các chứng nhân, Ngài đã rời bỏ mặt đất và bay về trời.

Nhờ những sự kiện kỳ ​​diệu này, số lượng người theo Chúa Giê-su tăng lên đáng kể. Chỉ một vài tháng sau đó ngay tại Jerusalem, một kỷ lục được ghi nhận rằng có khoảng 3000 tín đồ mới được thêm chỉ trong một ngày. Các nhà lãnh đạo tôn giáo đã cố gắng bách hại các môn đồ của Chúa Giê-su. Nhiều người trong số những người này đã chọn sự chết thay vì chối bỏ niềm tin rằng Chúa Giêsu chính là Đấng Messiah mà Thiên Chúa đã hứa ban.

Trong vòng 100 năm, mọi người trong khắp đế chế La Mã (Tiểu Á, Châu Âu) đã trở thành những người tin vào Chúa Giê-su. Năm 325 sau Công nguyên, Kitô giáo, trở thành tôn giáo chính thức của Hoàng đế La Mã Constantine. Trong vòng 500 năm, ngay cả những ngôi đền của các vị thần Hy Lạp cũng đã được biến đổi thành các nhà thờ cho những người tin theo Chúa Giê-su. Mặc dù một số sứ điệp và lời chỉ dạy của Chúa Giê-su đã bị pha loãng hoặc bị nhầm lẫn qua sự mở rộng của các tổ chức tôn giáo, nhưng lời răn nguyên gốc và cuộc đời công chính của Ngài vẫn được lan truyền rộng rãi qua họ.

Cuộc đời của Chúa Giê-su có kết thúc trên Thập Tự Giá không? Ngài có phục sinh sau sự chết không? Và Ngài có thể tha tội chúng ta là những tội nhân để chúng ta cũng có thể được chấp nhận vào Vương Quốc của Thiên Chúa Cha. Chỉ biết rằng từ 2000 năm qua, hàng triệu tín hữu vẫn hằng tin tưởng vào con người và thông điệp cứu rỗi của Chúa Giê-su, Đấng là nguồn gốc của Ki-tô giáo. Sau đây chúng ta sẽ có một cái nhìn khái quát và sâu sắc hơn về cuộc đời và giáo huấn của Chúa Giê Su Ki-Tô.

Thiên Thần báo tin Đức Trinh Nữ Maria sẽ hạ sinh Chúa Giê-su

(Xem Lu-ca 1:26-38; Mát-thêu 1:18-25)

Sách Kinh Thánh Tân Ước của Mát-thêu và Lu-ca giải thích sự hạ sinh đồng trinh của Chúa Giê-su. Đức Trinh Nữ Ma-ri-a đã đính hôn với một người đàn ông tên là Giu-se nhưng chưa kết hôn. Thiên sứ Gáp-ri-en đã hiện ra với Ma-ri-a và tuyên bố rằng bà sẽ có một người con trai được đặt tên là Giê-su và người sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.

Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.

 

Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói : “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.

 

Sứ thần liền nói : “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”

 

Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần : “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng !”

 

Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.

 

Phúc âm Thánh Lu-ca 1 : 26 – 35

Chúa Giê-su được sinh tại Thành Bethlehem

(xem tin mừng theo Thánh Lu-ca 2:1-7)

Ngay trước khi Chúa Giê-su sinh ra, hoàng đế La Mã Caesar Augustus đã quyết định rằng một cuộc điều tra dân số sẽ được thực hiện khắp Đế quốc La Mã, bao gồm cả vùng đất của Israel. Mọi người buộc phải quay trở về nguyên quán để đăng ký. Đối với Giu-se và Ma-ri-a, điều đó có nghĩa là rời Nazareth, một thị trấn khu vực phía Bắc Galilee, và đi đến Bethlehem ở khu vực phía nam gọi là Giu-đa hay xứ Giu-đê.

Sau khi họ đến Bethlehem, Đức Bà Ma-ri-a sắp đến ngày hạ sinh Chúa Giê-su. Thánh Cả Giu-se và Đức Bà Ma-ri-a buộc phải đi đến máng cỏ bởi vì họ không thể tìm được chỗ ở nữa. Đó là một máng cỏ, tức là chỗ chứa đồ ăn cho mấy con lừa và thú vật khác, được phục vụ cho sự sinh hạ khiêm tốn của Chúa Giê-su.

Bethlehem là một thành phố quan trọng cho lời tiên tri của Đấng Messiah. Vua Ða-vít, người cai trị Israel khoảng 1.000 năm trước thời Chúa Giê-su, được sinh ra ở Bethlehem. Và tiên tri Mi-chê, người đã sống khoảng 700 năm trước Chúa Giê-su, đã tuyên bố rằng Bethlehem sẽ là nơi hạ sinh của Đấng Messiah:

Phần ngươi, hỡi Bê-lem Ép-ra-tha,

ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa,

từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện

một vị có sứ mạng thống lãnh Ít-ra-en.

Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa.

Mi-kha 5 : 1

Ép-ra-tha là tên gọi từ thời xa xưa cho thành Bethlehem ở Giu-đa.

Ngôi sao của Bethlehem xuất hiện

(xem Mát-thêu 2:1-2)

Khi Chúa Giê-su ra đời, một ngôi sao xuất hiện trên Bethlehem. Các học giả ngày nay cho rằng ngôi sao là một thiên thạch, một hiện tượng siêu nhiên, một sự sắp xếp các thiên thể hay một ngôi sao theo đúng nghĩa đen. Nhiều học giả tin rằng Chúa Giê-su đã được sinh ra vào khoảng năm 4 đến năm 8 trước Công nguyên. Điều thú vị cần lưu ý là các ghi chép thiên văn học Trung Quốc cổ đại cho thấy rằng có một vật thể giống ngôi sao lơ lửng ở đâu đó trên vùng Trung Đông khoảng nhiều ngày vào năm 5 trước Công nguyên, khoảng 2000 năm trước.

Vua Hê-rốt cố gắng giết Vua Hài Nhi (Chúa Giê-su)

(xem Mát-thêu 2 : 3-12)

Ngôi sao của Bethlehem thu hút các nhà chiêm tinh từ phương Đông. Các nhà chiêm tinh này tin rằng ngôi sao đánh dấu sự ra đời của một vị vua mới. Có lẽ họ đã quen với những lời tiên tri của Kinh Thánh và hiểu rằng Đấng Cứu Thế Messiah sẽ được sinh ra tại Israel và rằng Ngài sẽ có ảnh hưởng trên toàn thế giới.

Nhưng Israel đã có một vị vua, vua Hê-rốt Đại Đế. Ông không phải là một vị vua thật sự nhưng đã được người La Mã chỉ định để cai quản người Do Thái ở đất Israel. Hê-rốt được mô tả bởi Josephus, một nhà sử học Do Thái sống trong thế kỷ thứ nhất, như một kẻ giết người khi đã ra lệnh giết chết nhiều thành viên trong gia đình của chính ông ta. Khi Hê-rốt phát hiện ra rằng các nhà chiêm tinh đang hy vọng để tìm và thờ phượng vị Vua trẻ mới ra đời, Hê-rốt đã ra lệnh giết tất cả trẻ sơ sinh ở Bethlehem, với hy vọng giết chết vị vua mà các nhà chiêm tinh phương Đông nói đến.

Đức Giê-su Hài Nhi và cha mẹ Ngài trỗi dậy sang Ai Cập

(xem Mát-thêu 2: 13-15)

Một thiên sứ đã cảnh báo âm mưu của Hê-rốt tới Thánh Cả Giu-se về việc giết những đứa trẻ nhỏ ở Bethlehem. Vì vậy, Thánh Cả Giu-se và Đức Bà Ma-ri đã đưa Hài Nhi Giê-su đến Ai Cập và họ sống ở đó cho đến khi Hê-rốt qua đời.

Trong thời cổ đại, người Israel đôi khi tìm kiếm nơi ẩn náu ở Ai Cập, bao gồm cả Gia-cóp và các con trai của ông, những người đã rời vùng đất Israel trong thời gian nạn đói. Phúc Âm Mát-thêu cho thấy nhiều sự kiện trong lịch sử Do Thái cũng tương tự như các biến cố trong cuộc đời Chúa Giê-su, làm tăng vai trò của Ngài là Đấng Messiah.

Chúa Giê-su trở lại Israel, đến thành Nazareth

(xem Mát-thêu 2: 19-23)

Sau khi vua Hê-rốt chết, Thánh Cả Giu-se, Đức Bà Ma-ri-a và Chúa Giê-xu quay trở về Israel. Thánh Cả Giu-se sợ trở về Bethlehem vì gần Jerusalem, nơi Herod Archelaus, con của Hê-rốt, giờ trị vì làm vua. Vì vậy, Thánh Cả Giu-se dẫn gia đình ông đến phía Bắc quận Galilee, tới một thị trấn nhỏ tên là Nazareth. Thành phố ít người biết đến này đã trở thành quê hương của Chúa Giê-su, nơi Ngài lớn lên và trưởng thành.

Cậu bé Giê-su thăm Đền Thờ của Thiên Chúa

(xem Lu-ca 2: 41 – 52)

Khi Chúa Giê-su được 12 tuổi, Ngài và mẹ, Đức Bà Ma-ri-a và Thánh Cả Giu-se đi đến Jerusalem để mừng Lễ Vượt Qua hàng năm. Khi lễ kết thúc, Đức Bà Ma-ri-a và Thánh Cả Giu-se đã lạc mất Chúa Giê-su và họ tìm kiếm Ngài. Chúa Giê-su đã đến Đền Thờ của Thiên Chúa và trò chuyện với những người ở đó. Mọi người ngạc nhiên trước sự hiểu biết sâu sắc và kiến thức của Ngài. Khi Đức Bà Ma-ri-a tìm thấy Chúa Giê-su tại đền thờ, Chúa Giê-su thưa với bà: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lu-ca 2 : 49).

Năm đầu tiên của Sứ Vụ

Phúc âm của Thánh Gio-an mô tả ba bữa tiệc Lễ Vượt Qua hàng năm trong suốt Sứ Vụ của Chúa Giê-su và đây là một trong những lý do cho niềm tin thông thường rằng Sứ Vụ của Ngài kéo dài trong khoảng 03 (ba) năm. Thánh Lu-ca cho chúng ta biết rằng Chúa Giê-su khoảng 30 tuổi khi Ngài bắt đầu Sứ Vụ của mình. Phần này giải thích một số chi tiết về năm đầu tiên của Sứ Vụ, bắt đầu với sứ giả của Ngài, Thánh Gio-an Tẩy Giả.

Chúa Giê-su chịu phép rửa bởi Gio-an Tẩy Giả

(xem Mát-thêu 3:13-17)

Trong sách tiên tri Malachi, có một lời tiên tri về một sứ giả người sẽ dọn đường cho Thiên Chúa: Này Ta sai sứ giả của Ta đến dọn đường trước mặt Ta. Và bỗng nhiên Chúa Thượng mà các ngươi tìm kiếm, đi vào Thánh Điện của Người. Kìa, vị sứ giả của giao ước mà các ngươi đợi trông đang đến, – ĐỨC CHÚA các đạo binh phán.” – Ma-la-chi 3: 1

Lời tiên tri này đã được hoàn tất khoảng 400 năm sau bởi Gio-an Tẩy Giả, người đã dọn đường cho Chúa Giê-su Ki-tô. Khi Chúa Giê-su chuẩn bị bắt đầu Sứ Vụ của mình, Gio-an Tẩy Giả tuyên bố với những người khác: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian” – Gio-an 1:29

Khi Chúa Giê-su khoảng 30 tuổi, Ngài rời khỏi Ga-li-lê, bao gồm cả thành Nazareth – nơi Ngài lớn lên, và đã đi đến vùng hoang địa của sông Gio-đan để chịu phép rửa. Ở đó, đám đông người dân đã kéo đến với Gio-an Tẩy Giả khi ông rao giảng và làm phép rửa.

Khi Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.” (Tin mừng Thánh Mát-thêu 3 : 16 -17)

Chúa Giê-su chịu cám dỗ của Satan

(xem Mát-thêu 4:1-11)

Sau khi Ngài chịu phép rửa, Chúa Giê-su đi vào sa mạc và ăn chay ròng rã trong 40 đêm ngày. Satan đã dùng thời gian này để cám dỗ Chúa Giê-su. “Satan” là một từ Do Thái có nghĩa là “kẻ thù nghịch”, “kẻ thù” hoặc “ma quỷ”.

Trong suốt thời gian cám dỗ, Satan sử dụng mãnh lực siêu nhiên để tìm Chúa Giê-su trên sa mạc, rồi đưa Chúa Giê-su lên đỉnh Đền Thờ Jerusalem, rồi đưa Chúa Giê-su đến một ngọn núi cao. Với lần lượt mỗi lần cám dỗ, sự tự tôn mình lên của những gì Satan bày ra tăng lên, cũng như chiều cao của nơi mà từ đó hắn ta đưa ra lời cám dỗ.

Mỗi lần, Chúa Giê-su chống lại sự cám dỗ và trích dẫn Thánh Thư để quở trách Satan. Một trường hợp là, Chúa Giê-su trích dẫn Sách Đệ Nhị Luật, chương 8. Điều quan trọng cần lưu ý là Sách Đệ Nhị Luật 8 : 2 – 3 nhắc nhở chúng ta rằng người Do Thái đã trải qua 40 năm trên sa mạc, nơi họ đã được thử thách cho sự vâng phục Thánh Ý của Thiên Chúa. Đây là ví dụ của sách Mát-thêu mà chỉ ra những điểm tương tự của cuộc đời của Chúa Giê-su và lịch sử của Israel.

Phép lạ đầu tiên của Chúa Giê-su, nước hóa thành rượu

(xem Gio-an 2:1-11)

Chúa Giê-su và một số môn đồ đi đến Ca-na, một thị trấn thuộc quận Ga-li-lê, tham dự một bữa tiệc cưới. Mẹ của Ngài, Đức bà Ma-ri-a, cũng tham dự. Người tổ chức tiệc cưới không có đủ rượu cho tất cả mọi người và điều này được xem là một tình huống rất xấu hổ. Đức Bà Ma-ri-a đã can thiệp thay mặt cho người tổ chức tiệc cưới và nói với Chúa Giê-su về vấn đề này. Chúa Giê-su sau đó đã biến đổi một cách kỳ diệu 06 chum nước thành rượu cho bữa tiệc cưới.

Trong tất cả các phép lạ mà Chúa Giê-su đã thực hiện, điều này có vẻ dường như không đáng kể. Nhưng nó đã đạt được những điều quan trọng. Nó cho thấy rằng Chúa Giê-su quan tâm đến những vấn đề của con người, cho dù đó không phải là vấn đề lớn. Và nó thể hiện tới các môn đệ của Chúa Giê-su rằng Ngài có thể thực hiện các phép lạ.

Trong suốt bốn sách Phúc Âm (Mát-thêu, Mác-cô, Lu-ca và Gio-an) có những mô tả về 34 phép lạ thực hiện bởi Chúa Giê-su. Nhưng tất cả mọi người kể lại đã có hàng nghìn phép lạ, cũng như khi được bao quanh bởi một nhóm lớn người dân, Kinh Thánh nói “Ngài chữa lành cho tất cả mọi người.” 34 phép lạ này là một hình mẫu của những gì Ngài đã làm và lòng trắc ẩn Ngài dành cho người dân. Tất cả mọi thứ từ việc trỗi dậy người chết, kiểm soát thiên nhiên, chữa bệnh, đuổi quỉ, và cung cấp đủ lương thực từ ổ bánh mỳ đến cá để nuôi hàng nghìn người.

Chúa Giê-su tẩy uế Đền Thờ Thiên Chúa ở Jerusalem

(xem Gio-an 2:13-17)

Chúa Giê-su đi đến Thành Thánh Jerusalem, thành phố quan trọng nhất trong xứ sở người Do Thái, và thăm Đền Thờ của Thiên Chúa. Khi đến nơi, Ngài thấy nhiều người buôn bán động vật và đổi tiền trong các sân của Đền Thờ. Điều này khiến Chúa Giê-su tức giận vì Đền Thờ được dự định là nơi để thờ phượng Thiên Chúa, không phải là nơi cho việc mua bán. Chúa Giê-su liền lấy dây làm roi và đuổi các thương nhân khỏi Đền Thờ. Chúa Giê-su phán rằng:

“Làm sao anh em lại dám biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán!” (Tin mừng Thánh Gio-an 2:16)

Chúa Giê-su nói về tình yêu Thiên Chúa và kế hoạch cứu độ

(xem Gio-an 3:16-17)

Chúa Giê-su giải thích tới ông Ni-cô-đê-mô điều một người phải làm để có được sự cứu độ và sự sống đời đời. Chúa Giê-su răn bảo: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.” (Tin mừng Thánh Gio-an 3:16-17).

Chúa Giê-su nói với một phụ nữ Sa – ma – ri về “nước hằng sống”

(xem Gio-an 4 : 5 – 42)

Khi Chúa Giê-su và những người theo Ngài đi ngang qua Sa-ma-ri, Chúa Giê-su nghỉ ngơi tại một nơi gọi là Giếng của Gia-cóp. Ở đó, Ngài gặp một người phụ nữ Sa – ma – ri và nói chuyện với bà về “nước hằng sống”. Ngài nói với người phụ nữ này:

Đức Giê-su trả lời : “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (Tin mừng Thánh Gio – an 4 : 13 – 14)

Trong cuộc thảo luận này với người phụ nữ Sa – ma – ri, Chúa Giê-su đã cho thấy rằng Lời của Thiên Chúa đã được chia sẻ với tất cả mọi người, thậm chí ngay cả kẻ thù (người Sa-ma-ri và người Do Thái đã thù địch với nhau). Và, Ngài cho thấy rằng Lời của Thiên Chúa sẽ được chia sẻ với cả nam giới và nữ giới, người Do Thái và cũng như dân ngoại. (Gentiles – Dân ngoại đề cập đến những người không phải là người Do Thái).

Phần đầu Sứ Vụ của Chúa Giê-su ở Ga-li-lê

(xem Gio-an 4 : 3, 43 – 45)

Trong phần đầu Sứ Vụ của Chúa Giê-su, Ngài đi đến miền Ga-li-lê, nơi mà người Do Thái và nhiều người dân ngoại (không phải Do Thái) sống. Chúa Giê-su đã rao giảng và thực hiện nhiều phép lạ ở đó. Ngài đã trở thành một ngọn hải đăng cho nhiều người khi Ngài làm sáng tỏ Lời của Thiên Chúa. Điều này đã được tiên tri Isaia tiên báo trước khoảng 700 năm:

“… thời sau Ngài sẽ làm vẻ vang Ga-li-lê của người dân ngoại, bằng con đường ra biển, dọc theo sông Gio-đan – Người dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng ; trên những người sống trong vùng đất bóng tối của sự chết một tia sáng của hi vọng đã le lói.” (Isaiah 9 : 1 – 2)

Chúa Giê-su chữa con của một sĩ quan cận vệ của nhà vua

(xem Gio-an 4 : 46-54)

Khi Chúa Giê-su trở lại viếng thăm Ca-na miền Ga-li-lê, một sĩ quan cận vệ của nhà vua đã cầu xin Chúa Giê-su chữa lành cho đứa con trai của ông bị ốm rất nặng. Chúa Giê-su nói:

“Các ông mà không thấy dấu lạ điềm thiêng thì các ông sẽ chẳng tin đâu.” (Tin mừng Thánh Gio-an 4 : 48)

Chúa Giê-su sau đó nói sĩ quan cận vệ này cứ về đi, con ông ta đã khỏi bệnh rồi. Viên chức sau đó biết được rằng con trai ông đã được chữa lành và ông cùng gia đình đã trở thành tín đồ theo Chúa.

Chúa Giê-su tuyên bố rằng Ngài là Đấng Messiah

(xem Lu-ca 4 : 14 – 21)

Chúa Giê-su đi đến một Giáo đường Do thái ở Nazareth, và đọc từ sách Isaiah cho dân chúng ở đó:

Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa. (Isaiah 61:1 – 2)

Rồi, Chúa Giê-su tuyên bố rằng Ngài là Đấng Messiah mà tiên tri Isaiah nói về:

Đức Giê-su cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. Người bắt đầu nói với họ : “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe.” (Lu-ca 4 : 20-21)

Chúa Giê-su bị khước từ là Đấng Messiah

(xem Lu-ca 4 : 22 – 30)

Ngay sau khi Chúa Giê-su công bố Ngài là Đấng Messiah, mọi người liền bảo “Ông này không phải là con ông Giu-se đó sao?”  Chúa Giê-su biết ý họ, Ngài liền nói với họ:

Người nói với họ : “Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ : Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình ! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Ca-phác-na-um, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào !” Người nói tiếp : “Tôi bảo thật các ông : không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình. (Lu-ca 4 : 23 – 24)

Và thực sự ứng nghiệm như Chúa Giê-su phán bảo, mọi người ở Giáo đường Nazareth đã phẫn nộ ném Ngài xuống vực sâu:

Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành – thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi. (Lu-ca 4 : 28 – 30)

Năm thứ hai của Sứ Vụ

Năm thứ hai Sứ Vụ của Chúa Giê-su đôi khi được gọi tới như là “Năm của Tính Đại Chúng (Year of Popularity).” Ngài đã thực hiện nhiều phép lạ trong suốt giai đoạn này của Sứ Vụ và ngày càng trở nên phổ biến với dân chúng.

Chúa Giê-su giải thích Ngài là sự cứu rỗi; Thiên Chúa là Cha của Ngài

(xem Gio-an 5 : 17 – 47)

Đây là một trong những đoạn Kinh Thánh quan trọng nhất. Ở đây, Chúa Giê-su giải thích rằng Thiên Chúa là Cha của Ngài. Chúa Giê-su cũng giải thích rằng tất cả những ai tin Lời của Chúa Giê-su sẽ có sự sống đời đời:

Quả thật, Chúa Cha không xét xử một ai, nhưng đã ban cho người Con mọi quyền xét xử, để ai nấy đều tôn kính người Con như tôn kính Chúa Cha. Kẻ nào không tôn kính người Con, thì cũng không tôn kính Chúa Cha, Đấng đã sai người Con. Thật, tôi bảo thật các ông : ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống. (Gio-an 5 : 22 – 24).

Thợ gặt thì ít

(xem Mát-thêu 9 : 35 – 38)

Một nhóm tông đồ tập hợp lại quanh Chúa Giê-su khi Ngài đi khắp vùng nông thôn. Từ “môn đệ” (disciple) có nghĩa là “người học” (learner) và mối quan hệ của một bậc thầy với các môn đệ được người Do Thái rất coi trọng trong thời cổ đại. Những người Pharisees, Sadducees và các nhà thông giáo (Scribes), có môn đệ. Trong thực tế, Gio-an Tẩy Giả có môn đồ. Chúa Giê-su ủy thác các môn đệ để phục vụ người dân:

Đức Giê-su đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.

 

Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng : Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.” (Tin mừng Thánh Matthew 9:35-38).

Chúa Giê-su sai phái 12 tông đồ

(xem Mát-thêu 10:1-4; Mác-cô 3:13-19; Lu-ca 6:12-16)

Trong số các tông đồ, Chúa Giê-su đã ban cho một số người khả năng chữa bệnh tật và đau ốm. Chúa Giê-su đã làm điều này sau khi đi lên núi và dành cả đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa Cha. Các môn đồ này được gọi là 12 Thánh Tông Đồ. Họ là:

  1. Phê-rô, cũng được gọi là Si-môn Phê-rô.
  2. An-rê, anh của ông Phê-rô.
  3. Gia-cô-bê, con của ông Đê-bê-đê.
  4. Gio-an, em của ông Gia-cô-bê.
  5. Phi-líp-phê.
  6. Ba-tô-lô-mê-ô.
  7. Tô-ma.
  8. Mát-thêu, người thu thuế.
  9. Gia-cô-bê, con ông An-phê.
  10. Ta–đê–ô.
  11. Si-môn thuộc nhóm Quá Khích (the Zealot)
  12. Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, kẻ phản bội Chúa Giê-su.

Chúa Giê-su đưa ra Bài Giảng Trên Núi (the Sermon on the Mount)

(xem Mát-thêu 5 – 7)

Chúa Giê-su không chỉ chữa lành cho nhiều người và thực hiện phép lạ cho thấy Ngài là Con của Thiên Chúa (the Son of God), Ngài cũng rao giảng các bài giảng vĩ đại nhất trong lịch sử. Bài Giảng Trên Núi (The Sermon on the Mount) trong các chương 5 đến 7 của Mát-thêu được nhiều người xem như là vĩ đại nhất trong tất cả. Bài Giảng thiết lập các chủ đề cơ bản Giáo Huấn của Ngài. Sau khi tuyên bố một loạt các phước lành (các mối phúc) Chúa Giê-su đã nói về luật pháp và sự kiện toàn của luật pháp.

Ngài khẳng định rằng mục đích của Ngài là kiện toàn luật pháp và ứng nghiệm lời tiên tri. Chúa Giê-su đã đưa ra một số sự tương phản giữa lời giảng dạy của Ngài và của lề luật truyền thống; mỗi câu mở đầu bằng cụm từ “Anh em đã nghe Luật dạy rằng … (Mát-thêu 5 : 21 – 22). Mục đích của Ngài là đưa một đạo luật được dự định bắt buộc thực hiện bởi các cơ quan tư pháp hướng tới một tiêu chuẩn về tư tưởng và cam kết chỉ có thể được áp dụng trong tâm hồn và cuộc sống của chính một con người. Ngài đã giải quyết các chủ đề khó khăn của sự giận ghét, ngoại tình và tham lam, trả thù, và chống lại cái ác.

Cuối cùng, Ngài đã đi đến trọng tâm của bài giảng của mình, một sự cam kết yêu thương mà không có ranh giới. Chúa Giê-su đã từ chối thái độ yêu thương đồng loại và ghét kẻ thù, yêu cầu mọi người “hãy yêu kẻ thù của mình và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em”. (Tin mừng Thánh Mát-thêu 5  : 44) Có 16 bài giảng lớn được liệt kê trong bốn sách Tin Mừng, bao gồm: nỗi khốn khổ cùng cực cuối cùng, nhà của Cha Ngài, Bánh trường sinh, Sự Phán Xét và Sự Phục Sinh, Nước Trời, Ma quỷ và con cái của Ngài, Vị Mục Tử Nhân Lành, chống lại những kẻ đạo đức giả khoác lên cái mác tôn giáo, v.v …

Đây là một phần Bài Giảng Trên Núi của Chúa Giê-su, như được ghi chép trong Mát-thêu 5 : 43 – 48:

“Anh em đã nghe Luật dạy rằng : Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu ? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao? Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.”

Bài Kinh “Kính Lạy Cha”

(xem Mát-thêu 6 : 6 – 15)

Trong suốt Bài Giảng Trên Núi, Chúa Giê-su đã nói về việc cầu nguyện với Thiên Chúa Cha:

Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh,

 

Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

 

“Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại ; họ nghĩ rằng : cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.

 

“Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này :

 

“Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời,

xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển,

triều đại Cha mau đến,

ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.

Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày;

xin tha tội cho chúng con,

như chúng con cũng tha

cho những người có lỗi với chúng con ;

xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ,

nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.

 

“Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em.

 (Mát-thêu 6 : 6 – 15).

Chúa Giê-su chữa lành đầy tớ của một đại đội trưởng La Mã

(xem Mát-thêu 8 : 5 – 13)

Khi Chúa Giê-su vào thành Ca-phác-na-um, một thị trấn ở xứ Ga-li-lê, Chúa Giê-su được nài xin chữa lành đầy tớ của một đại đội trưởng La Mã. Chúa Giê-su nói rằng Ngài sẽ đến với tên đầy tớ và chữa lành cho anh ta. Nhưng viên đại đội trưởng trả lời rằng ông không xứng đáng có Chúa Giê-su đến nhà mình, và ông nói rằng “chỉ xin Ngài nói một lời, và đầy tớ tôi được khỏi bệnh” Bằng cách đó, viên đội trưởng thú nhận rằng ông đã hoàn toàn tin vào Chúa Giê-su, và ông biết rằng Chúa Giê-su có thể chữa lành đầy tớ mình chỉ bằng cách phán những lời từ xa. Điều này gây ngạc nhiên tới Chúa Giê-su, Ngài quay sang những người theo Ngài và nói về đức tin của vị đại đội trưởng: “… Tôi bảo thật các ông, tôi không thấy một người Israel nào có lòng tin như thế …” (xem Mát-thêu 8:10). Sau đó, Chúa Giê-su phán với dân chúng rằng người đầy tớ sẽ được chữa lành, và người đầy tớ được chữa lành.

Chúa Giê-su cho con trai một bà góa thành Na-in sống lại

(xem Lu-ca 7 : 12 – 16)

Chúa Giê-su đến gần cửa thành Na-in khi một nhóm người đang khiêng một xác chết đi chôn. Người chết là con của một góa phụ, người đang khóc. Khi Chúa Giê-su thấy bà, Ngài nói với người đàn bà đừng khóc. Như được giải thích trong Lu-ca 7 : 14 – 16

Rồi Người lại gần, sờ vào quan tài. Các người khiêng dừng lại. Đức Giê-su nói : “Này người thanh niên, tôi bảo anh : hãy chỗi dậy !” Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Đức Giê-su trao anh ta cho bà mẹ. Mọi người đều kinh sợ và tôn vinh Thiên Chúa rằng : “Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người”. (Tin mừng Thánh Lu-ca 7 : 14 – 16)

Kết quả hình ảnh cho hình ảnh Chúa Giê-su cho con trai một bà góa thành Na-in sống lại

Chúa Giê-su nói về “tội lỗi không thể tha thứ” (the “unpardonable sin”)

(xem Mát-thêu 12 : 25 – 37)

Khi một nhóm các nhà lãnh đạo tôn giáo thấy rằng Chúa Giê-su có quyền năng đuổi quỷ dữ ra khỏi mọi người, họ cáo buộc Chúa Giê-su có được quyền năng của Ngài từ ma quỷ. Chúa Jêsus, Đấng đầy dẫy Đức Thánh Linh, quở trách họ và giải thích rằng điều thiện chỉ có thể đến từ điều thiện, và quỷ dữ chỉ có thể đến từ quỷ dữ. Ngài cũng nói, như trích dẫn trong Tin mừng Thánh Mát-thêu 12: 30 – 32

“Ai không đi với tôi, là chống lại tôi ; và ai không cùng tôi thu góp, là phân tán. Vì thế, tôi nói cho các ông hay : mọi tội, kể cả tội nói phạm thượng, cũng sẽ được tha cho loài người, chứ tội nói phạm đến Thần Khí sẽ chẳng được tha. Ai nói phạm đến Con Người thì được tha; nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần sẽ chẳng được tha, cả đời này lẫn đời sau. (Tin mừng Thánh Mát-thêu 12: 30 – 32)

Chúa Giê-su dẹp yên biển động

(xem Mát-thêu 8 : 24 – 27)

Chúa Giê-su ở trên thuyền cùng các môn đệ khi cơn bão bắt đầu khiến ném sóng ập vào thuyền. Các môn đệ lo lắng rằng chiếc thuyền sẽ đổ nhào nên họ đánh thức Chúa Giê-su đang ngủ. Chúa Giê-su nói con người để có lòng tin. Rồi Đức Chúa Giê-su ra lệnh ngăm đe gió và biển: biển liền lặng như tờ. Đây là một trong những phép lạ mà Chúa Giê-su đã chỉ ra rằng Ngài có thể chỉ huy các thế lực thiên nhiên.

Chúa Giê-su cho con gái một vị thủ lãnh sống lại

(xem Mát-thêu 9:18-19, 23-26)

Một vị thủ lãnh đến với Chúa Giê-su và nói rằng con gái ông đã chết. Vị thủ lãnh này có niềm tin mạnh mẽ rằng Chúa Giê-su có thể làm cho con gái mình sống lại. Chúa Giê-su và môn đệ của Ngài đã đi đến nhà của vị thủ lãnh và thấy một đám tang. Chúa Giê-su bảo những người đưa tang rời khỏi ngôi nhà. Ngài cũng nói với họ rằng bé gái không chết nhưng đang ngủ. Những người đưa tang phá lên cười nhạo Ngài. Nhưng, sau khi những người đưa tang đã rời khỏi nhà, Chúa Giê-su cầm lấy tay bé gái và nó liền trỗi dậy.

Chúa Giê-su chữa lành hai người mù

(xem Mát-thêu 9:27-34)

Hai người mù đã biết được rằng Chúa Giê-su ở gần đó và họ kêu cầu với Ngài rằng: “Lạy Con Vua Ða-vít, xin thương xót chúng tôi.” Chúa Giê-su hỏi những người mù nếu họ thực sự tin rằng Ngài có quyền năng chữa lành cho họ. Họ nói với họ tin Ngài. Chúa Giê-su sau đó chạm vào mắt họ và khôi phục lại tầm nhìn của họ. Chúa Giê-su nói với họ, “Các anh tin thế nào thì được như vậy”. Khi những người mù gọi Chúa Giê-su là “Con Vua Đa-vít”, họ đã ám chỉ đến những lời tiên tri trong Kinh Thánh như Giê-rê-mi 23: 5-6 và Isaiah 11 : 1-10, nói rằng Đấng Messiah sẽ là con cháu Vua Đa-vít, mà Chúa Giê-su chính là.

Này, sẽ tới những ngày – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA –

Ta sẽ làm nẩy sinh cho nhà Đa-vít

một chồi non chính trực.

Vị vua lên ngôi trị vì sẽ là người khôn ngoan tài giỏi

trong xứ sở, vua sẽ thi hành điều chính trực công minh.

Thời bấy giờ, Giu-đa sẽ được cứu thoát,

Ít-ra-en được sống yên hàn.

Danh hiệu người ta tặng vua ấy

sẽ là : “ĐỨC CHÚA, sự công chính của chúng ta.”

Giê-rê-mi 23: 5-6

Hình ảnh có liên quan

Năm thứ ba của Sứ Vụ

Năm thứ ba trong Sứ Vụ của Chúa Giê-su đôi khi được gọi là “Năm của sự chống đối”. Một số lãnh đạo trong dân cố gắng nhưng không thành công để thách thức thẩm quyền của Chúa Giê-su và ngày càng trở nên đối kháng. Chúa Giê-su tiếp tục thực hiện các phép lạ và đông đảo dân chúng tiếp tục tìm kiếm Ngài.

Chúa Giê-su cung cấp thức ăn tới 5000 người dân

(xem Mát-thêu 14 : 13-21)

Ngay sau khi Chúa Giê-su biết rằng Gio-an Tẩy Giả đã bị chém đầu, Chúa Giê-su đi thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt để cầu nguyện. Nhưng một đám đông lớn dân chúng tập trung ở bờ để gặp Chúa Giê-su. Ngài chạnh lòng thương, nên Ngài lên bờ và chữa lành những người trong đám đông đang đau ốm.

Đến chiều muộn, và các môn đệ của Chúa Giê-su lo lắng dân chúng không có thức ăn. Chúa Giê-su bảo các môn đệ hãy cho dân chúng ăn, nhưng các môn đệ nói rằng họ chỉ có năm ổ bánh và hai con cá. Và đám đông dân chúng rất lớn với 5000 người đàn ông, cũng như nhiều phụ nữ và trẻ em.

Như được giải thích trong Mát-thêu 14 : 19-21, đây là điều xảy ra tiếp theo: ” … Rồi sau đó, Người truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng. Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con.”

Chúa Giê-su đi trên mặt nước

(xem Mát-thêu 14 : 22-33)

Trong tất cả những phép lạ mà Chúa Giê-su đã thực hiện trong việc chữa bệnh cho người dân, biến nước thành rượu và cung cấp thức ăn cho nhiều người với chỉ một giỏ thức ăn duy nhất, phép lạ làm cho các môn đồ tuyên bố rằng Chúa Giê-su là Con của Đức Chúa Trời là phép lạ đi trên mặt nước của Ngài. Trong lúc giải tán dân chúng, Chúa Giê-su bắt các môn đệ qua bờ bên kia trước. Sau đó, Ngài lên núi và cầu nguyện một mình. Còn chiếc thuyền trở các môn đệ đã ra xa bờ đến cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió. Vào khoảng canh tư, Chúa Giê-su bước đi trên mặt nước mà đến với các môn đệ và làm hoảng hốt các ông. Họ nghĩ rằng họ đang nhìn thấy một con ma đang đi trên mặt nước và sợ hãi la lên. Nhưng sau khi họ nhận ra đó chính là Chúa Giê-su, họ thờ lạy Ngài, mà nói rằng: “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa.”

Chúa Giê-su tiên báo sự chết của Ngài

(xem Mát-thêu 16 : 21-26)

Tương tự như các vị tiên tri khác trong Kinh Thánh, Chúa Giê-su đã báo trước những sự kiện xảy ra sau đó. Ngài tiên đoán Jerusalem và Đền Thờ sẽ bị phá hủy và Lời Thiên Chúa sẽ được giảng tới mọi nơi trên thế giới. Những lời tiên tri này đã được ứng nghiệm. Nhưng, Chúa Giê-su thì khác các tiên tri khác của Thiên Chúa. Thứ nhất, Chúa Giê-su là chủ đề của nhiều lời tiên tri đưa đưa ra bởi các tiên tri khác. Hai là, Chúa Giê-su đã hoàn thành một số lời tiên tri của chính Ngài. Như đã được giải thích trong Mát-thêu 16 : 21-26, Chúa Giê-su đã tiên tri sự bắt bớ, sự chết và sự sống lại của Ngài.

Từ lúc đó, Đức Giê-su Ki-tô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết : Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại. Ông Phê-rô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người : “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy !” Nhưng Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô : “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy ! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Tin mừng Mát-thêu 16: 21 – 23)

Chúa Giê-su biến hình

(xem Mát-thêu 17 : 1 – 8)

Trong Mát-thêu 17 : 1 – 8, Kinh Thánh chép rằng: “Sáu ngày sau, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. Và bỗng các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người. Bấy giờ ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng : “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay ! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.” Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !” Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất. Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo : “Chỗi dậy đi, đừng sợ !” Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su mà thôi.

Kết quả hình ảnh cho Chúa Giê-su biến hình

Chúa Giê-su nói về sự khiêm nhường

(xem Mát-thêu 18 : 1 – 4)

Trong Mát-thêu 18:1-4, Kinh Thánh chép rằng: Lúc ấy, các môn đệ lại gần hỏi Đức Giê-su rằng : “Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời ?” Đức Giê-su liền gọi một em nhỏ đến, đặt vào giữa các ông và bảo : “Thầy bảo thật anh em : nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời.”

Chúa Giê-su nói về sự tha thứ

(xem Mát-thêu 18 : 21-22)

Trong Mát-thêu 18:21-22, Kinh Thánh chép rằng: “ Bấy giờ, ông Phê-rô đến gần Đức Giê-su mà hỏi rằng : “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần ? Có phải bảy lần không ?” Đức Giê-su đáp : “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.”

Chúa Giê-su chữa một người mù từ thuở mới sinh

(xem Gio-an 9 : 1 – 41)

Khi các môn đệ của Chúa Giê-su nhìn thấy một người mù từ lúc chào đời, họ hỏi Chúa Giê-su xem sự mù lòa của người đàn ông này có phải là kết quả của tội lỗi của chính anh ta hay là do tội lỗi của cha mẹ anh ta. Chúa Giê-su trả lời họ rằng sự mù lòa không phải là do tội lỗi của anh hay của cha mẹ anh. Chúa Giê-su phán rằng sự mù lòa xảy ra “để công việc của Thiên Chúa được tỏ hiện trong cuộc đời của anh ta”. Chúa Giê-su sau đó chữa lành người đàn ông bị mù.

Chúa Giê-su trỗi dậy anh La-da-rô từ cõi chết

(xem Gio-an  11 : 1-44)

Trong Gio-an 11: 1 – 44, Kinh Thánh đưa ra một tường thuật khác về việc Chúa Giê-su trỗi dậy một người từ sự chết. Trong trường hợp này, đó là một người tên La – da – rô. Khi Chúa Giê-su được bảo rằng La-da-rô bị ốm nặng, Ngài nói:

“Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa : qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh.” (Tin mừng Thánh Gio-an 11 : 4).

Vài ngày sau, Chúa Giê-su đi đến ngôi mộ của La-da-rô, nơi La-da-rô đã ở trong đó bốn ngày rồi. Chúa Giê-su đi đến tới Mác-ta, chị gái của La-da-rô, và:

Đức Giê-su liền phán : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?”  (Tin mừng Thánh Gio-an 11 : 25-26).

Rồi, Mác-ta thưa với Chúa Giê-su:

“Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.” (Tin mừng Thánh Gio-an 11 : 27).

Chúa Giê-su đi đến ngôi mộ và kêu gọi La-da-rô, rồi anh ta trỗi dậy từ cõi chết để sống lại và bước ra khỏi mồ.

Những tháng cuối cùng

Sự kết thúc Sứ Vụ của Chúa Giê-su được đánh dấu bằng một cuộc tiến vào vinh danh chiến thắng tại Jerusalem và sự phản kháng lớn của các nhà lãnh đạo tôn giáo địa phương.

Cuộc tiến vào vinh danh chiến thắng tại Jerusalem

(xem Mát-thêu 21 : 1 – 11)

Khoảng 500 năm trước thời Chúa Giê-su, có một vị tiên tri của Thiên Chúa tên là Zechariah (xem Zechariah 9 : 9), người đã nói về một vị vua xuất hiện tại Jerusalem khi ngồi trên lưng lừa một cách khiêm tốn. Đây là cách Chúa Giê-su tiến vào Thành Thánh của Jerusalem ngay trước khi bị đóng đinh và bị giết. Ngài cưỡi trên lưng lừa tiến vào trong thành. Trên đường đi, một đám đông người dân tụ tập gần Ngài, ca ngợi Ngài khi Ngài đi qua.

Gio-an đoạn 12 : 18 chép rằng, sở dĩ dân chúng đi đón Ngài, là họ nghe biết Ngài đã làm dấu lạ trỗi dậy La-da-rô từ cõi chết.

Câu hỏi về đóng thuế

(xem Mát-thêu 22 : 15 – 22)

Các nhóm tôn giáo và chính trị của Jerusalem, như những người Pharisees và người Sadducees, thường đối lập với Chúa Giê-su. Các thành viên của các nhóm này đã âm mưu để loại bỏ Chúa Giê-su. Trong Mát-thêu 22, những người Pharisees cố gắng bẫy Chúa Giê-su bằng cách hỏi xem người Do Thái có đóng thuế cho người La Mã hay không:

Bấy giờ những người Pha-ri-sêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giê-su phải lỡ lời mà mắc bẫy.

 

Họ sai các môn đệ của họ cùng đi với những người phe Hê-rô-đê, đến nói với Đức Giê-su rằng : “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chính trực và Thầy dạy đường lối của Thiên Chúa theo đúng sự thật. Thầy cũng chẳng bị chịu ảnh hưởng bởi con người, vì Thầy không chú ý đến họ là ai. Vậy xin Thầy cho biết ý kiến : có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không ?”

 

Nhưng Đức Giê-su biết họ có ác ý, nên Người nói : “Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình ! Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế !” Họ liền đưa cho Người một quan tiền. Người hỏi họ : “Hình và danh hiệu này là của ai đây ?” Họ đáp : “Của Xê-da.”

 

Bấy giờ, Người bảo họ : “Thế thì của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.”

 

Nghe vậy, họ ngạc nhiên và để Người lại đó mà đi.

(Tin mừng Mát-thêu 22 : 15 – 17)

Quyền bính của Chúa Giê-su

(xem Mát-thêu 21 : 23-27)

Những người chống đối của Chúa Giê-su đã phải rất thận trong việc dập tắt tiếng nói của Ngài. Họ biết rằng Chúa Giê-su được dân chúng biết đến, vì vậy họ cố gắng tìm cách để bẫy Ngài mà không chọc giận dân chúng. Trong ví dụ này từ sách của Mát-thêu, những người chống đối đã đưa ra một âm mưu nhưng lại phản tác dụng:

Đức Giê-su vào Đền Thờ, và trong khi Người giảng dạy, các thượng tế và kỳ mục trong dân đến gần Người và hỏi: “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy ? Ai đã cho ông quyền ấy ?” Đức Giê-su đáp : “Còn tôi, tôi chỉ xin hỏi các ông một điều thôi ; nếu các ông trả lời được cho tôi, thì tôi cũng sẽ nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy. Vậy, phép rửa của ông Gio-an do đâu mà có ? Do Trời hay do người ta ?” Họ mới nghĩ thầm : “Nếu mình nói : “Do Trời”, thì ông ấy sẽ vặn lại : “Thế sao các ông lại không tin ông ấy ?” Còn nếu mình nói : “Do người ta”, thì mình sợ dân chúng, vì ai nấy đều cho ông Gio-an là một ngôn sứ.” Họ mới trả lời Đức Giê-su : “Chúng tôi không biết.” Người cũng nói với họ : “Tôi cũng vậy, tôi không nói cho các ông là tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy.”

 

(Tin mừng Thánh Mát-thêu 21 : 23 – 27)

Tiền dâng cúng của bà góa nghèo

(xem Mác-cô 12 : 41 – 44)

Trong khi Chúa Giê-su ở tại Đền Thờ, mọi người đang đóng góp cho tiền dâng cúng của Đền Thờ:

Đức Giê-su ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền.

 

Nhưng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm rất nhỏ, trị giá chỉ một phần của một đồng xu. Đức Giê-su liền gọi các môn đệ lại và nói : “Thầy bảo thật anh em : bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó ; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.”

 

 (Tin mừng Mác-cô 12 : 41 – 44)

Điều răn trọng nhất (the Golden Rule)

(xem Mát-thêu 22 : 34-40)

Sách Mát-thêu cho thấy một ví dụ khác về việc làm thế nào một số nhà lãnh đạo tôn giáo của Jerusalem thử Chúa Giê-su:

Khi nghe tin Đức Giê-su đã làm cho nhóm Xa-đốc phải câm miệng, thì những người Pha-ri-sêu họp nhau lại. Rồi một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giê-su để thử Người rằng :

“Thưa Thầy, trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn trọng nhất ?”

 

Đức Giê-su đáp: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi,hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy.”

 

(Tin mừng Mát-thêu 22 : 34 – 40).

Chúa Giê-su đã có thể tóm lược Luật Pháp, là năm quyển đầu tiên của Kinh Thánh Cựu Ước, thành một vài câu.

Sự bách hại Chúa Giê-su

Phần này giải thích một số sự kiện trong cuộc bách hại và đóng đinh của Chúa Giê-su. Chúa Giê-su bị vu oan là một người nổi dậy chống chính phủ và đã bị đóng đinh và bị giết. Cuộc bách hại của Ngài đã hoàn thành nhiều lời tiên tri của Kinh Thánh đã được viết ra hàng trăm năm trước.

Âm mưu hại Chúa Giê-su

(xem Mát-thêu 26:1-5, 14-16)

Vài ngày trước Lễ Vượt Qua, Chúa Giê-su một lần nữa tiên báo về sự chết của Ngài. Ngài nói với các môn đệ rằng Ngài sẽ bị giao nộp để bị đóng đinh.

Vào khoảng thời gian này, các thượng tế và kỳ mục trong dân đã lên kế hoạch bắt giữ Chúa Giê-su để họ có thể giết Ngài. Họ đã mua chuộc với Giuđa, một trong 12 Tông Đồ của Chúa Giê-su, và trả cho hắn ta 30 (ba mươi) đồng bạc để tìm cơ hội phản bội Chúa Giê-su.

Bữa Tiệc của Chúa (Bữa Tiệc Ly)

(xem Mát-thêu 26:26-29; Mác-cô 14:22-25; Lu-ca 22:19-20)

Trong suốt kỳ Lễ Vượt Qua, Chúa Giê-su nhóm họp với các tông đồ của Ngài. Ngài biết rằng đây sẽ là bữa ăn cuối cùng mà Ngài sẽ chia sẻ với các tông đồ của mình trước khi bị đóng đinh. Chính vào thời điểm này, Chúa Giê-su đã thiết lập điều mà các nhà thờ Thiên Chúa Giáo gọi là “bí tích Thánh Thể”, còn được gọi là “Bữa Tiệc Ly” hay “Bữa Tiệc của Chúa”.

Cũng trong bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói : “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy.” Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói : “Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội. Thầy bảo cho anh em biết : từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy.” (Tin mừng Mát-thêu 26:26-29).

Chúa Giê-su chịu khổ nạn và chết vì tội lỗi của chúng ta; Ngài đã dâng thân mình và máu cho sự tha tội của chúng ta. Nhiều nhà thờ Thiên Chúa Giáo cử hành bí tích Thánh Thể ít nhất mỗi tháng một lần.

Kết quả hình ảnh cho Bữa Tiệc của Chúa (Bữa Tiệc Ly)

Chúa Giê-su bị Giu-đa phản bội

(xem Mát – thêu 26 : 47-56)

Chúa Giê-su và các môn đệ Ngài đã bước vào vườn Ghết-sê-ma-ni trên Núi Ô-liu. Các môn đệ của Ngài đang ngủ trong đêm khi đám lính La Mã và các quan chức Do Thái bắt đầu bắt giữ Chúa Giê-su. Giu-đa đã mách với những người lính ai là Chúa Giê-su. Rồi họ bắt đầu bắt Chúa Giê-su, nhưng Phê-rô dùng một thanh gươm để cắt tai của một người lính. Chúa Giê-su đã trách phạt Phê-rô vì đã làm điều đó: “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm” (Mát-thêu 26:52). Chúa Giê-su chữa lành vết thương của người lính và sau đó để cho chính Ngài bị bắt và dẫn đi.

Ông Phê-rô chối biết Chúa Giê-su

(xem Mát-thêu 26 : 58,69-75)

Chương 26 của cuốn sách Kinh Thánh của Mát-thêu bắt đầu bằng một lời tiên tri của Chúa Giê-su rằng Ngài sẽ bị phản bội và bị giao nộp để bị đóng đinh. Và chương kết thúc với việc ứng nghiệm một lời tiên tri khác của Chúa Giê-su – rằng Phê-rô, Tông đồ trung thành của Chúa Giê-su, sẽ chối không biết Chúa Giê-su 03 (ba) lần trước khi gà gáy.

Sau khi Chúa Giê-su bị bắt giữ và bị dẫn đi bởi những người lính, Phê-rô đi theo họ vào tận dinh thượng tế Cai-pha. Ông ngồi gần một số vệ sĩ và chờ đợi để xem điều gì sẽ xảy ra với Chúa Giê-su. Một đầy tớ gái đến bên Phê-rô và hỏi ông có ở với Chúa Giê-su hay không. Phê-rô nói “Tôi không biết cô đang nói gì.”

Rồi Phê-rô đứng dậy và đi ra ngoài cửa ngõ, nơi một người khác nhìn thấy ông và xác định ông là một người theo Chúa Giêsu. Phê-rô một lần nữa chối không biết Chúa Giê-su. Những người khác sau đó đã nhận ra Phê-rô là người đi theo Chúa Giê-su và một lần nữa Phê-rô chối không biết Chúa Giê-su. Tóm lại, Phê-rô đã chối không biết Chúa Giê-su ba lần trước bình minh, giống như Chúa Giê-xu đã tiên đoán.

Khi Phê-rô nhớ lại rằng Chúa Giê-su đã tiên báo sự chối bỏ của Phê-rô, Phê-rô bắt đầu khóc vì ông đã chối không biết Chúa.

Hình ảnh có liên quan

Chúa Giê-su bị thẩm vấn, nhạo báng và đưa ra xét xử

(xem Mát-thêu 27 : 1-31)

Chương 27 sách Mát-thêu của Thánh Kinh giải thích rằng Chúa Giê-su đã vu khống là một người nổi dậy chống chính phủ. Ngài xuất hiện trước Pontius Pilate, thống đốc La Mã của vùng đất người Do Thái, và cuối cùng bị kết án. Sau đó Chúa Giê-su đã bị tra tấn và nhạo báng bởi những người lính La Mã.

Bấy giờ lính của tổng trấn đem Đức Giê-su vào trong dinh, và tập trung cả cơ đội quanh Người. Chúng lột áo Người ra, khoác cho Người một tấm áo choàng đỏ, rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Người một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo rằng : “Vạn tuế Đức Vua dân Do-thái !” Rồi chúng khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy mà đập vào đầu Người. Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra, và cho Người mặc áo lại như trước, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá.

(Tin mừng Mát-thêu 27 : 27-31)

Kết quả hình ảnh cho Chúa Giê-su bị thẩm vấn, nhạo báng và đưa ra xét xử

Chúa Giê-su chịu đóng đinh vào thập giá

(xem Mát-thêu 27:35-38)

Sau phiên xét xử, Chúa Giê-su bị tra tấn và bị đánh bằng roi ra. Sau đó Ngài bị bắt vác một cây thập tự giá và đưa tới Calvary. Ở đó, Ngài đã bị đóng đinh trên thập tự giá, qua cổ tay và chân Ngài. Thập tự giá đã được dựng lên và Chúa Giê-su phải chết. Nhiều người tụ tập để xem. Một số người đã nhạo báng Chúa Giê-su khi Ngài đang hấp hối. Những người khác thương tiếc Ngài. Trong Lu-ca 23:34, Chúa Giê-su phán rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.”

Hình ảnh có liên quan

Chúa Giê-su được mai táng

(xem Mát-thêu 27 : 57 – 61; Mác-cô 15 : 42 – 47; Lu-ca 23 : 50 – 55; Gio-an 19 : 31 – 42)

Sau khi Chúa Giê-su chết trên thập tự giá, một người lính La Mã đã đâm vào Chúa Giê-su bằng một cây giáo để chắc chắn rằng Ngài đã chết. Hai người đàn ông đã xin phép để lấy thi hài của Chúa Giê-su và chôn cất Ngài. Hai người đó là Giô-xếp người Arimathea và một người tên là Ni-cô-đê-mô. Chúa Giê-su bị đưa xuống khỏi cây thập tự, thi hài Ngài được quấn trong băng vải tẩm thuốc thơm và đặt vào một ngôi mộ trống chưa chôn cất ai sở hữu bởi Giô-sép người Arimathea. Một hòn đá lớn được đặt ở phía trước ngôi mộ để đóng kín nơi chôn cất. Người La Mã cũng cắt cử lính tới ngôi mộ để ngăn chặn bất cứ ai ăn cắp xác.

Sự Phục Sinh của Chúa Giê-su

Chúa Giê-su bị đóng đinh. Ngài đã chết. Ngài đã được mai táng. Và rồi Ngài trỗi dậy. Sự phục sinh là một phần quan trọng của Ki-tô giáo. Không hề có Ki-tô Giáo nếu không có Sự Phục Sinh của Chúa Giê-su (xem I Cô-rin-tô 15). Mục này giải thích một số chi tiết về Sự Phục Sinh của Chúa Giê-su Ki-tô.

Bà Ma-ri-a Mác-đa-la phát hiện ngôi mộ Chúa Giê-su trống không

(xem Gio-an 20 : 1-10)

Buổi sáng sau khi Chúa Giê-su được đặt vào trong ngôi mộ, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đến thăm ngôi mộ. Đó là lúc sáng sớm và lúc đó trời còn tối.

Bà thấy rằng hòn đá đã được di chuyển ra từ phía trước ngôi mộ và ngôi mộ trống rỗng.

Bà chạy đến Phê-rô để thông báo cho ông những gì bà đã nhìn thấy. Sau đó, Phê-rô và một tông đồ khác, Gio – an, chạy đến ngôi mộ để tự mình chứng kiến. Thân xác của Chúa Giê-su đã biến mất và điều duy nhất còn lại là tấm vải được dùng để quấn lấy thi hai Ngài cho việc mai táng. Các Tông Đồ bối rối, họ không hiểu điều gì đang xảy ra. Làm thế nào ngôi mộ trống rỗng? Thân xác của Chúa Giê-su ở đâu?

Chúa Giê-su hiện ra với Bà Ma-ri-a Mác-đa-la

(xem Gio-an 20 : 11-18)

Các Tông Đồ sau đó lại trở về nhà. Nhưng bà Ma-ri-a Mác-đa-la vẫn ở bên mộ, và khóc. Và điều kì diệu đã xảy ra: Chúa Giê-su đã hiện ra với bà. Bà Ma-ri-a Mác-đa-la là người đầu tiên nhìn thấy Chúa Giêsu phục sinh.

Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giê-su, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân. Thiên thần hỏi bà : “Này bà, sao bà khóc ?” Bà thưa : “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu !” Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giê-su đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giê-su. Đức Giê-su nói với bà : “Này bà, sao bà khóc ? Bà tìm ai ?” Bà Ma-ri-a tưởng là người làm vườn, liền nói : “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về.” Đức Giê-su gọi bà : “Ma-ri-a !” Bà quay lại và nói bằng tiếng Híp-ri : “Ráp-bu-ni !” (nghĩa là ‘Lạy Thầy’). Đức Giê-su bảo : “Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ : ‘ Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em ‘.” Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi báo cho các môn đệ : “Tôi đã thấy Chúa”, và bà kể lại những điều Người đã nói với bà.

Tin mừng Gio-an 20 : 11 – 18

Chúa Giê-su hiện ra với các môn đệ

Sự phục sinh của Chúa Giê-su Ki-tô là khởi nguyên của Ki-tô Giáo. Nếu Đấng Ki-tô đã không được Thiên Chúa Cha phục sinh và được nhiều người chứng kiến (hơn 500 người), Ki-tô Giáo sẽ không tồn tại cho tới ngày nay. Chúa Giê-su đã có 12 (mười hai) lần hiện ra sau khi Ngài phục sinh:

  1. Lần hiện ra đầu tiên của Ngài là tới bà Ma-ri-a Mác-đa-la, vào sáng sớm Chúa Nhật. (Mác-cô 16:9; Gio-an 20:10-18).
  2. Chúa Giê-su hiện ra với các phụ nữ quay trở lại ngôi mộ. (Mát-thêu 28:9-10).
  3. Chúa Giê-su hiện ra tới 02 (hai) môn đệ khi họ đang trên đường tới Emmaus. (Lu-ca 24 :13-32; Mác-cô 16:12-13).
  4. Chúa Giê-su hiện ra tới Phê-rô ở Jerusalem. (Lu-ca 24:34; 1 Corinthians 15:5).
  5. Chúa Giê-su hiện ra tới các môn đệ và những người tin theo khác, và cũng là lần thứ hai tới 2 môn đệ từ Emmaus, trong một căn phòng đóng kín cửa tại Jerusalem. Tông đồ Tô-ma không có mặt vào lúc đó. (Lu-ca 24 : 36-43; Gio-an 20 : 19-23).
  6. Một tuần sau, Chúa Giê-su lại hiện ra tới các môn đệ của Ngài trong một ngôi nhà mà các cửa phòng đều đóng kín, và lần này ông Tô-ma có mặt ở đó. (Gio-an 20:24-29).
  7. Chúa Giê-su hiện ra tới 07 (bảy) môn đệ trên biển hồ Ti-bê-ri-a (Gio-an 21:1-24).
  8. Chúa Giê-su được chứng kiến bởi 500 người tin theo một lần cả thể. (1 Corinthians 15:6).
  9. Chúa Giê-su hiện ra tới Gia-cô-bê. (1 Corinthians 15:7).
  10. Chúa Giê-su hiện ra tới 11 tông đồ trên một ngọn núi ở Galilee. (Mát-thêu 28:18-20).
  11. Chúa Giê-su đi bộ với các môn đệ của Ngài dọc đường tới Bethany, trên Núi Ô-liu, và rồi Ngài bay về Trời. (Lu-ca 24:50-53).
  12. Chúa Giê-su được chứng kiến bởi Phao-lô trên đường tới Damascus. (Công vụ tông đồ 9:3-6; 1 Corinthians 15:8).
Chúa Giê-su hiện ra trước tông đồ Tô-ma

(xem Gio-an 20:24-29)

Một số người nghi ngờ việc Chúa Giê-su đã trỗi dậy từ sự chết, và việc Ngài đã được Thiên Chúa Cha phục sinh. Sau tất cả, người La Mã đóng đinh xuyên qua bàn tay và bàn chân của Chúa Giê-su và sau đó đâm Ngài bằng một giáo để chắc chắn rằng Ngài đã chết. Và bây giờ có nhiều người tuyên bố đã nhìn thấy Chúa Giê-su sống lại. Ngay cả vị tông đồ tên là Tô-ma cũng có nghi ngờ, như được giải thích trong Gio-an 20: 24-29:

Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. Các môn đệ khác nói với ông : “Chúng tôi đã được thấy Chúa!” Ông Tô-ma đáp : “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.”

 

Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em.” Rồi Người bảo ông Tô-ma : “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.”

 

Ông Tô-ma thưa Người : “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” Đức Giê-su bảo : “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin !”

 

Tin mừng Thánh Gio-an 20: 24-29

Chúa Giê-su dặn dò Thánh Phê-rô chăn dắt đoàn chiên

Tại biển hồ Ti-bê-ri-a, Chúa Giê-su đã 03 lần hỏi tông đồ Phê-rô rằng : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy không?”, tương ứng với 03 lần ông Phê-rô chối bỏ Ngài. Và Chúa Giê-su cũng dặn dò ông 03 lần : “Hãy chăn dắt chiên của Thầy.”

Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy hơn các anh em này không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.” Đức Giê-su nói với ông : “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy.” Người lại hỏi : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.” Người nói : “Hãy chăn dắt chiên của Thầy.” Người hỏi lần thứ ba : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ?” Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần : “Anh có yêu mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự ; Thầy biết con yêu mến Thầy.” Đức Giê-su bảo : “Hãy chăm sóc chiên của Thầy. Thật, Thầy bảo thật cho anh biết : lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn.” Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông : “Hãy theo Thầy.”

Tin mừng Thánh Gio-an 21 : 15 – 19

Lịch sử cũng đã ghi chép sự chết của Thánh Phê-rô cùng các tông đồ của nhóm Mười Hai khi họ làm chứng về Chúa Giê-su, tất cả đều bị giết hại. Duy nhất chỉ có tông đồ Gio-an là chết do tuổi cao sức yếu.

Ý nghĩa của Sự Phục Sinh

(xem 1 Cô-rin-tô 15)

Trong Kinh Thánh Tân Ước, có một cuốn sách gọi là 1 Cô-rin-tô, được viết bởi một môn đồ tên là Phao-lô. Chương 15 của cuốn sách này giải thích ý nghĩa của Sự Phục Sinh của Chúa Giê-su. Chương sách nói rằng Chúa Giê-su chết vì tội lỗi của chúng ta. (xem 1 Cô-rin-tô 15: 3). Đức tin của chúng ta sẽ không có ý nghĩa nếu không có Sự Phục Sinh (xem 1 Cô-rin-tô 15:17). Và chương sách tuyên bố rằng Chúa Giê-su đã phục sinh. (xem I Cô-rin-tô 15:20). Phao-lô là một trong những người chứng kiến Chúa Giê-su sau Sự Phục Sinh của Ngài.

Nhưng nếu chúng tôi rao giảng rằng Đức Ki-tô đã từ cõi chết chỗi dậy, thì sao trong anh em có người lại nói : không có chuyện kẻ chết sống lại ? Nếu kẻ chết không sống lại, thì Đức Ki-tô đã không chỗi dậy. Mà nếu Đức Ki-tô đã không chỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng. Thế ra chúng tôi là những chứng nhân giả của Thiên Chúa, bởi vì đã chống lại Thiên Chúa mà làm chứng rằng Người đã cho Đức Ki-tô chỗi dậy, trong khi thực sự Người đã không cho Đức Ki-tô chỗi dậy, nếu quả thật kẻ chết không chỗi dậy. Vì nếu kẻ chết không chỗi dậy, thì Đức Ki-tô cũng đã không chỗi dậy. Mà nếu Đức Ki-tô đã không chỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Ki-tô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người.

(1 Cô-rin-tô 15 : 12 – 19)

Kết quả hình ảnh cho Chúa Giê-su phục sinh
Sứ Mệnh Lớn Lao (The Great Commission)

(xem Mát-thêu 28 : 18 – 20)

Sau khi phục sinh, Chúa Giê-su đã gặp các môn đệ của Ngài trên một ngọn núi ở Ga-li-lê và ban cho họ một mệnh lệnh để ra đi và loan báo Tin Mừng cho mọi người:

Mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã cắt đặt các ông. Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Đức Giê-su đến gần, nói với các ông : “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Tin mừng Mát-thêu 28:16-20).

Trong Mát-thêu 28 : 19, Chúa Giê-su đề cập đến Thiên Chúa Ba Ngôi khi Ngài nói về Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Linh. Đây được gọi là “Ba Ngôi Chí Thánh” và cũng là “Thiên Chúa Ba Ngôi”, có nghĩa là Ba Ngôi hoàn toàn riêng biệt trong một Thiên Chúa. Các Kitô hữu tin vào một Thiên Chúa – một Thiên Chúa là Thiên Chúa Cha, Thiên Chúa Con, và Chúa Thánh Thần. Tín điều Athanasian và Nicene giải thích cụ thể bản thể Ba Ngôi Thiên Chúa. Những tín điều này được các Ki-tô hữu viết ra như một cách để tóm lược và giải thích về Ki-tô Giáo.

Chúa Giê-su ngự giá lên Thiên Đàng

(xem Mác-cô 16:19-20)

Sau khi truyền lệnh các môn đệ ra ngoài thế giới và rao giảng Lời Chúa, Chúa Giê-su ngự giá lên Thiên Đàng:

Nói xong, Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng. (Tin mừng Thánh Mác-cô 16 : 19-20).

Cuộc Tái Lâm của Chúa Giê-su

(xem Mát-thêu 24)

Kinh Thánh Tân Ước giải thích rằng Chúa Giê-su sẽ trở lại trong tương lai để phán xét người sống và người chết và thiết lập nền hòa bình vĩnh cửu.

Có nhiều trường đoạn đề cập đến Cuộc Tái Lâm của Chúa Giê-su, bao gồm Mát-thêu 16 : 24-28, Mát-thêu 24, Mát-thêu 25 : 31-46, Mác-cô 8: 34-9: 1, Mác-cô 13, Lu-ca 9: 23-27, Lu-ca 17 : 20-37, Lu-ca 21: 5-38; Gio-an 6 : 39 – 40, và Gio-an 14 : 3.

Trong Mát-thêu 16:27, Chúa Giê-su đã phán bảo rằng “Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm.”

Tin mừng theo Thánh Mát-thêu, chương 24, mô tả một loạt các dấu hiệu sẽ xảy ra trước khi Chúa Giê-su tái lâm. Chúng ta được cho biết rằng tất cả những dấu hiệu này sẽ tự biểu lộ ra trong suốt một thế hệ duy nhất: “Thầy bảo thật anh em: thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra.” (Mát-thêu 24:34).

Nhưng chúng ta không biết đó sẽ là thế hệ nào.

Trong Tin mừng theo Thánh Mác-cô 13 : 32, chúng ta được Chúa Giê-su răn bảo rằng: “Còn về ngày và giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi.”

Đã có rất nhiều suy đoán về việc liệu chúng ta có hiện đang sống trong thế hệ sẽ chứng kiến tất cả những dấu chỉ được mô tả trong Mát-thêu 24. Nhiều người đã cố gắng tiên đoán khi nào Chúa Giê-su sẽ trở lại cuối cùng phạm sai lầm. Kinh Thánh cảnh báo chúng ta đừng lo lắng và nhắc nhở chúng ta phải chuẩn bị linh hồn. Đối với các tín hữu, Cuộc Tái Lâm của Chúa Giê-su sẽ là một sự kiện vinh quang.

Chúng ta hãy điểm lại những chi tiết chính của Mát-thêu chương 24 : 3 – 44 và đối chiếu với hoàn cảnh hiện tại để đưa ra sự suy xét: liệu Chúa Giê-su sẽ trở lại trong thế hệ này hay không?

Sau đó, lúc Người ngồi trên núi Ô-liu, các môn đệ tới gặp riêng Người và thưa : “Xin Thầy nói cho chúng con biết khi nào những sự việc ấy xảy ra, và cứ điềm nào mà biết ngày Thầy quang lâm và ngày tận thế ?”

 

Những cơn đau đớn khởi đầu

Đức Giê-su đáp : “Anh em hãy coi chừng, đừng để ai lừa gạt anh em, vì sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến nói rằng : “Chính Ta đây là Đấng Ki-tô”, và họ sẽ lừa gạt được nhiều người. Anh em sẽ nghe có giặc giã và tin đồn giặc giã ; coi chừng, đừng khiếp sợ, vì những việc đó phải xảy ra, nhưng chưa phải là tận cùng. Quả thế, dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. Sẽ có những cơn đói kém, và những trận động đất ở nhiều nơi. Nhưng tất cả những sự việc ấy chỉ là khởi đầu các cơn đau đớn.

 

“Bấy giờ, người ta sẽ nộp anh em, khiến anh em phải khốn quẫn, và người ta sẽ giết anh em ; anh em sẽ bị mọi dân tộc thù ghét vì danh Thầy. Bấy giờ sẽ có nhiều người vấp ngã. Người ta sẽ nộp nhau và thù ghét nhau. Sẽ có nhiều ngôn sứ giả xuất hiện và lừa gạt được nhiều người. Vì tội ác gia tăng, nên lòng yêu mến của nhiều người sẽ nguội đi. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.

“Tin Mừng này về Vương Quốc sẽ được loan báo trên khắp thế giới, để làm chứng cho mọi dân tộc được biết. Và bấy giờ sẽ là tận cùng.”

 

Cơn gian nan khốn khổ tại Jerusalem

“Vậy, khi anh em thấy đặt trong nơi thánh Đồ Ghê Tởm Khốc Hại mà ngôn sứ Đa-ni-en đã nói đến người đọc hãy lo mà hiểu ! thì bấy giờ ai ở miền Giu-đê, hãy trốn lên núi, ai ở trên sân thượng thì đừng xuống lấy đồ đạc trong nhà, ai ở ngoài đồng, đừng trở lại phía sau lấy áo choàng của mình. Khốn cho những người mang thai và những người đang cho con bú trong những ngày đó ! Anh em hãy cầu xin cho khỏi phải chạy trốn vào mùa đông hay ngày sa-bát. Vì khi ấy sẽ có cơn gian nan khốn khổ đến mức từ thuở khai thiên lập địa cho đến bây giờ chưa khi nào xảy ra, và sẽ không bao giờ xảy ra như vậy nữa. Nếu những ngày ấy không được rút ngắn lại, thì không ai được cứu thoát ; nhưng, vì những người được tuyển chọn, các ngày ấy sẽ được rút ngắn.

 

Sự xuất hiện của Ki-tô giả và ngôn sứ giả lừa gạt những người được ưu tuyển

“Bấy giờ, nếu có ai bảo anh em : “Này, Đấng Ki-tô ở đây” hoặc “ở đó”, thì anh em đừng tin. Thật vậy, sẽ có những Ki-tô giả và ngôn sứ giả xuất hiện, đưa ra những dấu lạ lớn lao và những điềm thiêng, đến nỗi chúng lừa gạt cả những người đã được tuyển chọn, nếu có thể. Thầy báo trước cho anh em đấy !

 

Sự xuất hiện của kẻ mạo nhận là Chúa Giê-su Ki-tô loan báo Cuộc Tái Lâm

“Vậy, nếu người ta bảo anh em : “Này, Người ở trong hoang địa”, anh em chớ ra đó ; “Kìa, Người ở trong phòng kín”, anh em cũng đừng tin. Vì, như chớp loé ra từ phương đông và chiếu sáng đến phương tây thế nào, thì cuộc quang lâm của Con Người cũng sẽ như vậy. Xác chết nằm đâu, diều hâu tụ đó.

 

Hiện tượng của ngày Quang Lâm

“Ngay sau những ngày gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời bị lay chuyển. Bấy giờ, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời ; bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến. Người sẽ sai các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương, từ chân trời này đến chân trời kia.

 

Thí dụ cây vả

“Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần. Cũng vậy, khi thấy tất cả những điều đó, anh em hãy biết là Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi. Thầy bảo thật anh em : thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu. Còn về ngày và giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay cả người Con cũng không ; chỉ một mình Chúa Cha biết mà thôi.

 

Phải canh thức sẵn sàng

“Quả thế, thời ông Nô-ê thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Vì trong những ngày trước nạn hồng thuỷ, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thuỷ ập tới cuốn đi hết thảy. Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Bấy giờ, hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại ; hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại.

 

“Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. Anh em hãy biết điều này : nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *